Loan Kim Homestay
  • Home
  • Room
  • Visit Hue
  • About Us
  • Contact Us
  • English
    • Vietnamese

About blog

about
Lorem Ipsum is simply dummy text of the printing and typesetting industry. Lorem Ipsum has been the industry’s standard dummy text ever since the 1500s,

Categories

  • Blog (31)
  • Uncategorized (1)

Popular Tag

Huế hội vật làng sình điện hòn chén

Archives

  • June 2021 (6)
  • May 2021 (12)
  • April 2021 (11)
  • March 2021 (3)

Blog

Đặc sản Mè Xửng ngọt thanh hương vị Cố đô

Post By: Loan Kim May 24, 2021 0 Comment(s) Huế

Từ rất lâu, Mè Xửng là một biểu tượng gắn liền với người dân xứ Cố đô Huế. Đặc sản này mang cốt cách và tâm hồn con người Huế luôn theo chân những đứa con xa xứ hàng trăm năm qua. Người Huế họ xem Mè Xửng là một trong những “bảo vật” cần được lưu giữ.

Mè Xửng – cái vị kẹo không lẫn vào đâu được ở xứ Huế. Cứ nhắc đến Huế, người ta lại dễ dàng liên tưởng đến món này. Không xa hoa, chỉ đơn giản, bình dị mà đi vào lòng người bao nhiêu năm qua. Hương thơm của mè, vị béo của đậu phộng lẫn với vị ngòn ngọt của đường, mạch nha, cắn một miếng nhấp một ngụm trà nhẹ nhàng cảm nhận chất Huế, từ lâu việc thưởng thức như thế đã đi vào đời sống của người dân xứ Huế.

Vâng, Mè Xửng là một cái tên quá đỗi quen thuộc với bao người. Một cái tên ra đời từ bao giờ cũng không ai hay biết, nhưng có lẽ quá ngon làm sửng sốt bao người nên có cái tên ấy hay có thể qua bao biến cố thăng trần của thời gian mà món Mè Xửng vẫn giữ được vị trí của mình, sừng sững đứng trong ngôi vị đặc sản ngon xứ Huế nên nười ta gọi là Mè Xửng chăng? Theo lý giải khác, sở dĩ có cái tên “Mè Xửng” là vì chúng làm từ mè, trước kia lại được đựng trong xửng, vậy nên người ta mới gọi là Mè Xửng.

Trước đây, loại kẹo này được làm hoàn toàn bằng thủ công và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mè Xửng chỉ ngon khi được làm từ những người thợ có tay nghề làm bánh kẹo lâu năm và khéo léo. Nguyên liệu chủ yếu của Mè Xửng là bột gạo, mè, đường trắng và đậu phộng. Để kẹo Mè Xửng không bị bẻ đôi thì bột gạo phải là gạo ngon được lựa chọn kỹ càng. Còn mè thì phải là loại vừng chất lượng để đảm bảo mùi thơm và thanh ngọt mang lại.

Công đoạn đầu tiên để làm kẹo Mè Xửng là nấu đường. Đun đến khi đường hòa tan ra hết, sau đó cho ít bột gạo vào rồi đảo đều tay, sao cho bột không bị vón cục. Đun đến khi bột gạo và đường hòa quyện vào với nhau, tiếp đến cho lạc (đã được giã nhỏ khoảng 1/3 đến 1/4 hạt) vào đảo tiếp. Sau đó, tắt bếp rồi đổ hỗn hợp kẹo Mè Xửng ra khuôn có sẵn rồi phủ mè lên trên. Cuối cùng để kẹo Mè Xửng khô lại rồi dùng dao hoặc kéo cắt thành từng miếng vuông nhỏ và bọc kín vào túi nilon. Vậy là đã hoàn thành một món đặc sản mà từ người già đến người trẻ, người giàu đến người bình dân đều dùng vào trong những mâm cỗ, đĩa bánh tiếp khách.

Ngày nay, cách làm Mè Xửng cũng đã được máy móc, thiết bị hỗ trợ, giúp rút ngắn khoảng thời gian làm và tăng năng suất. Riêng công đoạn cán mỏng phần kẹp trên nong tre phủ mè vẫn được thực hiện bằng tay để Mè Xửng dàn đều vừa phải và không dính. Để có một miếng kẹo mềm, dẻo, không bị cháy, ăn vào miệng dai dai ngọt ngọt là cả một nghệ thuật. Mè Xửng chất lượng là loại được nấu đến độ trong vắt, hạn sử dụng lên đến 3 tháng mà không hỏng.

Có nhiều loại Mè Xửng như Mè Xửng dẻo, Mè Xửng đen, Mè Xửng gương. Mè Xửng dẻo thì dẻo đến mức chúng ta có thể bẻ, cuộn, kéo nó rất dễ dàng. Mè Xửng gương thì mỏng như miếng bánh tráng, có thể nhìn xuyên thấu qua bánh vì nó trong suốt. Còn Mè Xửng đen thì được chế biến toàn bộ từ mè đen ăn rất bùi và bổ. 

Với những ai đã từng ăn kẹo Mè Xửng thì chắc chắn không thể quên được hương vị thơm ngon của nó. Kẹo vừa dẻo, vừa thơm mùi đậu phộng, mùi mè không thể lẫn vào đâu được. Nhưng cách thưởng thức kẹo Mè Xửng ngon đúng điệu là nhâm nhi với tách trà ướp sen pha bằng những hạt sương sớm trên lá sen. Người dân xứ Huế thường thưởng thức Mè Xửng như vậy. Họ thưởng thức Mè Xửng với nước trà nóng, vừa ăn nhâm nhi, cuộc sống cứ thế bình yên trôi qua. Đây là một nét đẹp rất thú vị trong văn hóa Huế, và chỉ ở Huế bạn mới có thể cảm nhận điều đó một cách trọn vẹn nhất. Chính nét đẹp tinh tế, dịu dàng này mà Huế có thể chinh phục không biết bao nhiêu con người.

Cũng bởi vậy mà, hầu hết khách du lịch khi đến mảnh đất Cố đô đều phải tìm mua cho bằng được đặc sản này để thưởng thức và mang về làm quà. Hình như nền ẩm thực Huế sẽ nhợt nhạt đi rất nhiều nếu thiếu đi món Mè Xửng này thì phải? Ai cũng đều nói vậy. Kẹo Mè Xửng tưởng chừng như đơn giản như bao món kẹo khác, những thật ra lại có một sức quyến rũ khó cưỡng.

Thưởng thức Mè Xửng cũng là thú vui tao nhã của bao người, một nghệ thuật ẩm thực cần phải kiên nhẫn của sự tinh tế trong lòng, không thể nôn nóng, không hề vội vã… Bạn sẽ cảm nhận hết những tinh hoa chứa đựng trong những miếng kẹo đầy ẩn ý này. Ngày mưa ngày nắng, bỗng một vài hôm không nhìn thấy kẹo Mè Xửng, tự dưng thấy lòng thương thương nhớ nhớ. Rồi phải chờ phải đợi tới khi ai đó đi xa về… quà quê càng thắm đượm hơn thêm cũng từ chính sự lâng lâng níu kéo miên man khó tả của Mè Xửng thơm lừng.

Nhắc về Huế, điều đầu tiên người ta nghĩ đến là nơi tụ hội của tinh hoa văn hóa, truyền thống và ẩm thực xứ Huế. Nhớ đến Huế và hãy thử ăn Mè Xửng để thưởng thức cái vị đặc biệt của nó và cảm nhận một chất Huế rất riêng nhé!

Read More

Lễ Thượng Tiêu ở xứ Huế mang đậm màu sắc cổ truyền của người dân Việt Nam

Post By: Loan Kim May 22, 2021 0 Comment(s) Huế

Nếu đã trót phải lòng những nét đẹp kiến trúc Cố đô Huế, thì Lễ Thượng Tiêu (23/12 âm lịch hàng năm) sẽ là một lễ hội hoàn hảo dành cho bạn khi đặt chân đến với mảnh đất này. Lễ Thượng Tiêu (hay Lễ Dựng Nêu) bắt nguồn từ thời Nguyễn. Lễ mang đậm màu sắc cổ truyền của người dân Việt Nam.

Tục lễ dựng Nêu ngày Tết là một trong những phong tục văn hóa không chỉ của riêng Việt Nam mà của rất nhiều nước Á Đông. Tuy nhiên, đối với người Việt Nam, sự ảnh hưởng này đã trở thành một nét văn hóa tốt đẹp ngàn đời. Đây là hoạt động nhằm tái hiện nghi lễ xưa của dân tộc Việt Nam nói chung, triều đình nhà Nguyễn nói riêng, tạo không khí vui tươi vào dịp mở đầu Tết Nguyên Đán.

Từ cửa Hiển Nhơn, nghi thức rước nêu (cây tre già dài 15m) được tổ chức trang trọng. 10 lính vệ vác nêu cùng đội nghi thức và ban lễ nhạc cung đình trong trang phục chỉnh tề. Đội rước nêu khởi hành trong âm thanh của tiểu nhạc tiến vào Hoàng Cung, đến Triệu Tổ Miếu (nơi thờ các vị vua triều Nguyễn), cửa chính của khu vực Thế Miếu và tiến hành nghi thức dựng nêu. 

Nét đặc biệt của lễ dựng nêu tại Hoàng Cung Huế là luôn gắn liền với đại nhạc, tiểu nhạc và các nghi lễ rất trang trọng như như nghinh thần, khánh hạ. Sau phần lễ, 10 lính vác nêu đã tiến hành dựng nêu lên. Khi cây nêu được dựng lên, đầu ngọn nêu được treo ấn, tín, văn phòng tư bảo, biểu trưng của việc phong ấn để triều đình nghỉ ngơi trong những ngày Tết.

Khách du lịch trong nước và người nước ngoài đến Cố đô Huế trong dịp này hết sức thích thú và ấn tượng với lễ dựng cây nêu, một nét đẹp văn hóa trong cung triều Nguyễn.

Dưới thời Nguyễn, tục dựng nêu được tổ chức bài bản, đúng vào ngày đưa ông Táo như đánh dấu mốc cho việc tạm ngừng các công việc trong năm để đón tết. Về tâm linh, dân gian tin rằng cây nêu có tác dụng xua đuổi, trừ yểm ma quỷ, những điều xấu của năm cũ, chuẩn bị cho một năm mới an lành. Lễ hạ nêu sẽ được tiến hành vào mùng 7 tết.

Lễ Thượng Tiêu đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho xứ Huế. Cố đô Huế “hội tụ” nhiều văn hóa lễ hội đặc sắc đang chờ du khách khám phá./.

Read More

Đến Huế, bạn sẽ bị mê hoặc bởi món Bánh Khoái ngon chuẩn vị

Post By: Loan Kim May 14, 2021 0 Comment(s) Huế

Bằng vẻ đẹp thơ mộng, giản dị, xứ Huế luôn mang trên mình nét kiêu sa cuốn hút lạ kì. Không chỉ làm say đắm lòng người bởi không gian văn hóa, truyền thống Huế còn tạo nên một thứ tình cảm thiết tha với du khách bởi những món ăn dân dã, tinh tế, chẳng hạn như món Bánh Khoái.

Bánh Khoái là một món bánh chiên đặc biệt của người dân Cố đô Huế. Về nguồn gốc, hiện nay, chưa có một tài liệu nào ghi chép lại thời gian ra đời chính xác của Bánh Khoái, chỉ biết rằng nó đã có mặt rất lâu đời trên đất Huế, có thể lên đến gần 100 năm. Nguồn gốc tên gọi của Bánh Khoái cho đến bây giờ vẫn còn là điều gây tranh cãi và chưa có kết luận chính thức. Một số người cho rằng, sở dĩ bánh có tên là “Bánh Khoái” vì khi người ta cho bột bánh vào chảo dầu để rán thì sẽ bốc lên làn khói nghi ngút, cách phát âm từ “khói” và “khoái” gần giống nhau nên mới có cái tên đặc biệt như vậy. Bên cạnh đó, cũng có nhiều người lại giải thích theo hương vị của món bánh, nghĩa là khi ăn cảm thấy “khoái khẩu”, ngon miệng nên từ đó bánh có tên là “Bánh Khoái”.

Bánh Khoái có cách thực hiện khá giống với món bánh xèo Nam Bộ nhưng dạng bánh lại khác nhau hoàn toàn. Bánh Khoái có hình tròn theo dạng khuôn đổ, bánh được làm từ thành phần chính đó là bột gạo, có nhân ở trên, bánh thường được ăn kèm với rau sống và nước chấm.

Không quá khó để làm ra một chiếc Bánh Khoái, tuy nhiên làm cách nào để bánh ngon và giòn mới là điều quan trọng. Hai yếu tố cốt lõi tạo nên độ ngon của bánh chính là: công thức bột và lửa. Bột phải được pha theo tỉ lệ nhất định sao cho không đặc mà cũng không loãng. Bánh được làm từ bột gạo loại ngon nhất có pha thêm một ít bột năng tạo độ sánh. Bột được rây kỹ rồi mang hòa với nước, thêm chút muối để tạo thành một hỗn hợp sền sệt. Để bánh thơm, nhiều dinh dưỡng và có màu vàng bắt mắt hơn thì người ta thường cho thêm một ít lòng đỏ trứng gà vào bột. 

Để làm nhân bánh, người làm sẽ chuẩn bị một ít tôm sông bóc vỏ, thịt heo ba chỉ, nấm hương. Các nguyên liệu này sẽ mang đi tẩm ướp gia vị như muối, tiêu… rồi xào sơ qua trước khi cho vào bánh. Bên cạnh đó, người ta sẽ chuẩn bị thêm một ít giá sống, trứng chim cút luộc và chả lụa (món ăn làm từ thịt nạc heo giã nhuyễn, gói trong lá chuối rồi mang luộc chín). 

Khuôn đổ Bánh Khoái là một chiếc chảo bằng gang, đường kính khoảng 15cm, dày 2-3cm. Người ta đặt chảo lên bếp lửa, đợi nóng khuôn rồi cho dầu ăn vào. Khi dầu ăn sôi, bột bánh sẽ được đổ vào rồi cho hỗn hợp nhân gồm tôm, thịt, chả lên bánh. Chảo bánh sẽ được đậy nắp tầm 5-10 phút cho bánh chín, đạt đủ độ giòn, vỏ cháy xém cạnh thì sẽ rải thêm một ít giá sống vào giữa rồi tráng thêm trên lớp bột một lớp lòng đỏ trứng gà. Khi chiên bánh, người làm phải tỉ mỉ canh chừng độ nóng của lửa, canh thời gian đổ bánh vừa đủ sao cho bánh đạt đủ độ giòn cần thiết. Cuối cùng, người ta gập bánh làm đôi rồi lật mặt bánh cho chín giòn mới xếp ra đĩa.

Bánh Khoái ngon hay không còn phụ thuộc vào nước chấm ăn kèm. Người Huế làm nước chấm này khá cầu kì. Nước chấm được nấu từ hơn 10 loại gia vị, có thành phần đặc biệt là gan heo và thịt nạc xay nhuyễn cùng với các gia vị là hành, tỏi, mè rang, đậu phộng, tương đậu nành, nước ruốc, bột ngọt,… Nước chấm được nấu nhỏ lửa cho đến khi nào sánh lại và có màu vàng nhạt là được.

Bánh Khoái thường ăn kèm với rau sống bao gồm xà lách, cải non, diếp cá, chuối xanh thái mỏng, khế chua, ớt đỏ, rau thơm, vả,… Bạn có thể thưởng thức bánh trực tiếp hoặc cuộn trong bánh tráng (bánh làm từ bột gạo tráng mỏng, phơi khô). Nếu ăn kèm bánh tráng thì đầu tiên, bạn cho ít rau sống vào bánh tráng, tiếp đến là xếp chiếc bánh khoái còn nóng hổi lên. Bạn cuốn bánh tráng tròn nhẹ nhàng nhưng chắc tay để chiếc bánh tạo thành một cuộn hình ống gọn gàng.

Chiếc Bánh Khoái thơm lừng, vàng rụm khi chấm vào nước tương thì vô cùng kích thích vị giác. Mùi thơm của trứng, vị béo của thịt, tôm, vị ngọt của nước tương hòa quyện cùng vị chua, the, bùi của các loại rau sống sẽ khiến bạn bị mê hoặc. 

Là một món ăn đặc trưng của vùng đất Cố đô, Bánh Khoái được tìm thấy ở hầu khắp các con đường của phố Huế mộng mơ.

Người ta ví những người nấu ăn ngon là một nghệ nhân. Phải nhìn cách các bà các mẹ canh lửa, đổ bột vào chảo đều tay, trở bánh và canh thời gian cho bánh vừa chín giòn thì mới thật nể phục, tâm phục cái danh xưng ấy dành cho học ái tâm của họ đặt vào món ăn.

Về với Huế, người ta không ngại ngần sà ngay vào một hàng quán ở chợ Đông Ba để thưởng ngay món ăn giản dị bình dân này. Một chiếc Bánh Khoái nóng hổi vàng giòn, ăn rồi cứ thòm thèm, ăn no mà vẫn muốn ăn nữa. Nét tinh tế của ẩm thực Huế chính là món ăn dù dầu mỡ nhưng vẫn làm người ta đam mê, không ngán, không nhợn. Về Huế ngay đi, có hàng bánh khoái đợi chờ…

Read More

Nhớ mãi hương vị độc đáo của món Cơm Hến ở xứ Huế

Post By: Loan Kim May 14, 2021 0 Comment(s) Huế

Ẩm thực Huế nổi tiếng từ lâu đời, kể cả ẩm thực cung đình lẫn ẩm thực dân gian. Các món ăn ở đây được tạo ra từ chính sản vật của địa phương, gần gũi và dễ tìm. Nhờ sự khéo léo và sáng tạo, người Huế đã tạo nên nhiều món ăn ngon, có hương vị đặc trưng xứ Huế, điển hình là món Cơm hến.

Nhắc đến Huế, không chỉ ngọt thơm bát bún bò, không chỉ lê la phố xá để thưởng thức các loại bánh lá, hay ghé chợ Đông Ba để ăn bát bún thịt nướng và mua tôm chua về làm quà mà còn phải thưởng thức món Cơm hến. Bởi vậy mới nói đến Huế không được thưởng thức Cơm hến là một sự thiếu sót.

Mỗi khi nhắc đến Huế, lại nhớ đến những câu văn của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng viết: “Hương vị bát ngát suốt đời người của tô cơm hến là mùi ruốc thơm dậy lên tận óc, và vị cay đến trào nước mắt. Người máu cơm hến vẫn chưa vừa lòng với vị cay sẵn có, còn đòi thêm một trái ớt tươi để cắn kêu cái rốp! Nước mắt đầm đìa, mồ hôi ròng ròng nhỏ giọt vào tô cơm, thế mà cứ sì sụp, xuýt xoa kêu “ngon, ngon!”; đi xa nhớ lại thèm tới đứt sợi tóc, ở nước ngoài về bay ra Huế để ăn cho được một tô cơm hến lấy làm hả hê, thế đấy, chao ôi là Huế!”.

Cơm hến là món cơm ăn với hến, nghe qua cũng giống như cơm bò (cơm ăn với bò), cơm gà (cơm ăn với gà)… Thậm chí, cơm hến còn mộc mạc hơn nhiều so với những món cơm này. Bởi vì, nguyên liệu làm ra món này rất đơn giản, chỉ là cơm nguội và hến xào. Dù chỉ là một món ăn bình dân nhưng Cơm hến đã được nâng lên hàng đặc sản Huế bởi hương vị thơm ngon, độc đáo.

Có ai đó đã từng nói rằng: “Cơm hến là một hành trình đi từ cái mộc mạc, dân dã đến sự cao quý, sang trọng”. Trước đây món này được xem như món cơm ăn qua bữa của người dân nghèo. Nhưng giờ đây món ăn này được trân trọng và nâng níu dâng tận đến cung đình.

Món ăn bình dị nhưng chứa đựng sự khéo léo, tỉ mỉ và công phu của người chế biến. Hai vị chủ đạo được chăm chút nhất của món ăn này là thịt hến và nước hến. Hến được sử dụng phải được bắt tại Cồn Hến. Nước sông Hương khi chảy qua cồn Hến thường trong vắt, ít phù sa và phèn. Đáy sông dưới chân cồn được phủ bởi một lớp bùn sâu, rất thích hợp cho sự sinh trưởng của con hến. Nhờ điều kiện thủy văn thuận lợi, con hến ở đây ngon đến nỗi được xếp vào hàng thực phẩm tiến cung cho vua chúa xưa. Ngày nay, người dân nơi đây vẫn tranh thủ cào hến từ lúc chạng vạng, rồi rửa qua cho sạch bùn và chuyển về các lò. Hến sẽ được ngâm trong nước vo gạo để nhả hết chất bẩn trong bụng. Sau đó cho vào nồi luộc để lấy 2 nguyên liệu quan trọng là phần thịt (ruột hến) và nước luộc. Sau đó, phần thịt sẽ được xào nhanh với miến gạo, măng khô xé nhỏ và thịt ba chỉ thái mỏng. Nước luộc hến lại được đun nóng, xắt vài miếng gừng và nêm nếm gia vị cho vừa ăn. Và một điểm đặc biệt của món ăn là cơm phải là cơm nguội để qua đêm, các hạt cơm phải rời nhau.

Ăn kèm với Cơm hến không thể thiếu: mè rang, đậu phộng nguyên hạt rang dầu, da heo chiên phồng, hành phi, tóp mỡ, mắm ruốc, ớt tươi và tỏi giã nhuyễn, ớt tương…. Cũng không thể thiếu các loại  rau: thân chuối, hoa chuối thái mỏng, dọc mùng, rau thơm, dứa và khế xắt nhỏ. Vị chát, chua, tê, hăng, mát của rau sống sẽ làm cho hương vị của tô cơm hến thêm thơm ngon và đậm đà.

Khi ăn, thực khách trộn trều tất cả các nguyên liệu với nhau rồi chan nước luộc hến lên xâm xấp để thưởng thức hoặc ăn kiểu khô (ăn riêng cơm và nước luộc hến nóng hổi). Tất cả các vị mặn, ngọt, cay, chua, bùi, giòn và tươi mát trong một tô cơm hến sẽ khiến bạn “say lòng”!

Cốt cách của người Huế đâu đó phảng phất trong những tô cơm hến thân thương. Cơm hến được ví như bức tranh “âm dương ngũ hành”, bốn mùa đều có cái ngon riêng. Nên nếu có đến Huế, đừng ngại ngần gì mà không thưởng thức ngay món cơm Hến vô cùng thơm ngon này. Loan Kim Homestay mong bạn có những trải nghiệm thú vị./.

Read More

Lễ hội Cầu Ngư, nét đẹp trong văn hóa tâm linh xứ Huế

Post By: Loan Kim May 9, 2021 0 Comment(s) Huế

Lênh đênh sông nước, đầm phá, những người “bám đuôi con cá” trên Phá Tam Giang xứ Huế sống dựa hoàn toàn vào thiên nhiên, nhưng trong đời sống họ vẫn bảo tồn những nét văn hoá dân gian đặc sắc mà Lễ hội Cầu Ngư là một ví dụ điển hình.

Lễ hội Cầu Ngư được diễn ra thường niên vào đầu tháng Giêng, tại sân đình làng Thái Dương thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang. Lễ hội được tổ chức để dân làng tưởng nhớ vị khai canh Trương Quý Công đã thành lập làng, và dạy nghề đánh cá, nên lễ hội tổ chức đúng vào ngày mất của ông, 12 tháng Giêng âm lịch.

Theo truyền thống cứ 3 năm một lần, thì tổ chức long trọng nhất (Từ ngày 10-12 tháng Giêng năm Đinh Dậu này sẽ đáo lệ, đúng dịp tổ chức Lễ hội Cầu Ngư như truyền thống). Lễ hội diễn ra trong 3 ngày, từ mùng 10 tháng Giêng đến 12 tháng Giêng âm lịch. Cả 3 ngày dân làng tắt bếp, tổ chức ăn cơm chung (theo đơn vị thôn).

Ngày mùng 10 thanh niên tổ chức các trò chơi thi bơi, chèo thuyền thúng, kéo dây, nhảy bao bố, nấu cơm thi… Ban đêm làng mời các đoàn hát bội, ca Huế về biểu diễn phục vụ nhân dân. Ngày 11, từ 5h sáng bắt đầu cúng tế ở đình làng và am miếu.

Rạng sáng ngày 12 tháng Giêng (0h30), địa phương sẽ làm lễ chính cầu an, tưởng niệm các vị tiền nhân tại đình làng. Tất cả các chủ thuyền mặc áo dài đen, quần trắng, đầu chít khăn đỏ chỉnh tề lần lượt vào làm lễ. Trước lúc vào lễ chánh tế, các bô lão trong làng thắp hương cầu khấn đất trời phù hộ cho con em làng chài sức khỏe, ra khơi gặp sóng yên, bể lặng… Các nhà trong làng đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu, thuyền tại lễ hội đều chăng đèn kết hoa.

Sáng sớm ngày 12 âm lịch, lễ chánh tế sẽ bắt đầu vào lúc 4h. Một bài văn tế dâng lên các vị thần linh và tiền bối của làng, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, đánh bắt được mùa, dân làng no ấm, mọi người hạnh phúc. Khoảng 5h sáng lễ chánh tế kết thúc. Sau khi cắt băng khánh thành công trình trùng tu Đình làng vào lúc 6h30, Lễ cầu ngư chính thức bắt đầu vào lúc 7h. Sau phần nghi lễ là phần khai hội diễn trò “cầu ngư” ngay trước sân đình, gồm các tiết mục như đẩy thuyền ra khơi, câu cá, bủa lưới, mua bán thủy, hải sản…

Mở màn, một bô lão đại diện dân làng thắp hương cầu nguyện năm mới “sóng yên biển lặng”, làm ăn thịnh vượng, sau đó đánh 3 hồi trống đại. Vừa dứt tiếng trống, một vị trung niên mặc lễ phục màu đỏ đi kèm có hai thuyền trưởng tàu đánh cá đầu bịt khăn đỏ, mặc trang phục dân chài lưới, làm bộ điệu khôi hài gây náo nhiệt. Trống lệnh lại gióng lên báo hiệu trò chơi bủa lưới. Một vị cao tuổi ném tiền và quà bánh xuống sân đình cho trẻ em nhặt, các em (đều là học sinh) đã được hóa trang thành cá, mực, tôm…

Trong lúc cá, mực, tôm, cua (bọn trẻ) chạy nhảy thì các trai tráng lực lưỡng khiêng một chiếc thuyền bằng tre trang hoàng màu sắc rực rỡ, trên ghe có người tung lưới bắt đám trẻ. Tiếng trống lại vang lên báo hiệu trò chơi “ruỗi bộ” (“ruỗi” – phương ngữ Huế chỉ việc mua bán cá) bắt đầu, các chủ thuyền chọn vài con cá (đứa trẻ xinh xắn) đến trước bàn thờ làm lễ. Số trẻ (đóng vai cá tôm) còn lại được ngồi vào thúng lớn, để hàng chục phụ nữ gánh xuống bến trước đình làng rửa tay chân sạch sẽ, rồi chạy ra chợ bán, họ cũng làm bộ điệu mua bán, lấy tiền như thật. Màn mua bán kéo dài khoảng hơn một giờ.

 

Tiếp theo là những trò diễn trên cạn cùng hội đua ghe truyền thống và đoàn tàu xuất quân đánh bắt vụ nam, vụ cá đầu năm của ngư dân vùng biển.

Chương trình ngày hội được tiếp tục bằng cuộc đua trải trên phá Tam Giang. Cuộc đua mang ý nghĩa cầu cho no ấm, vừa được mùa cá, vừa được mùa lúa, thoả mãn ước vọng no ấm của cư dân.

Lễ hội Cầu Ngư là ngày hội của cả cộng đồng, tràn đầy lạc quan và hi vọng. Lễ hội là nguồn cổ vũ cho cư dân có thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn trong nghề sông nước. Có từ hàng trăm năm trước, lễ hội Cầu Ngư được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là một trong những lễ hội quy mô, độc đáo và hấp dẫn của xứ Huế./.

Read More

Thú vị về Lễ Tịch Điền khuyến nông ở mảnh đất Cố đô Huế

Post By: Loan Kim May 3, 2021 0 Comment(s) Huế

Người ta bảo rằng, xứ Huế là cả một kho tàng nghi lễ. Nơi đây tập trung rất nhiều nghi lễ đặc sắc, độc đáo thể hiện nếp sống văn hóa bao đời của người dân xứ mộng mơ. Và trong những nghi lễ đó, thì lễ Tịch Điền chính là một nghi lễ quan trọng.

Nước Việt, trong suốt chiều dài lịch sử, nông nghiệp được xem là vấn đề kinh tế ảnh hưởng lớn lao đến sự thịnh vượng hay suy vong của các triều đại. Bởi vậy, triều đại nào, vị vua nào cũng không ngừng thể hiện sự quan tâm đến nền kinh tế cày bừa này. 

Để khuyến khích nông nghiệp, mỗi một triều đại đều có những biện pháp giống hoặc khác nhau tùy mức độ tiếp cận cũng như hoàn cảnh thực tế để tạo điều kiện cho diện tích, năng suất canh tác không ngừng nâng cao. Nào là luật lệ bảo vệ sức kéo, trị tội trộm cắp, xẻ thịt trâu bò, nào là đặt chức quan Hà đê sứ, nào miễn giảm thuế mỗi khi mất mùa, nào chính sách hạn điền, hạn nô,… Ngoài những biện pháp thực tế tác động trực tiếp vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, Nhà nước cũng có những biện pháp mang tính khuyến khích về mặt tinh thần, tâm linh mang tính lễ nghi như: thờ Thần Nông, tế Nam Giao, và quan trọng là cày tịch điền… 

Lễ Tịch Điền đã thể hiện tinh thần trọng nông của các bậc vương tử từ cổ chí kim. Lễ tịch Điền do đích thân nhà vua khai mạc. Theo sử sách, từ thời Đại Việt, vào đầu mùa xuân năm 987, vua Đại Hành đã thích thân thực hiện lễ cấy tịch điền nhằm động viên, khuyến khích nhân dân sản xuất. Đây cũng là lễ hội đầu tiên của nước Đại Việt và tập tục này được lưu giữ đến đời nhà Trần, nhà Nguyễn. 

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, năm 1828, vua Minh Mạng đã cho xây dựng đàn Tiên Nông ở giữa phường Hậu Sinh và An Trạch, nay là phường Tây Lộc ở phía Tây Bắc trong kinh thành Huế. Đàn hình vuông, một tầng, quay về hướng Nam, nền cao lát gạch, có làm sẵn các lỗ để cắm tàn lọng và cờ, xung quanh xây lan can bằng gạch, bốn mặt xây 9 bậc cấp đi lên xuống. Trên đàn có một ngôi nhà nhỏ để vua ngồi xem cày ruộng. Ngay phía trước đàn là khoảng ruộng để vua đích thân cày trong lễ Tịch điền.

Lễ Tịch Điền thường được bắt đầu vào tháng 5 âm lịch, gọi là tháng trọng xuân và cũng là tháng mà người dân ăn tết Nguyên Tiêu. Ngày và giờ cử hành lễ được cả Bộ lễ của triều đình xem xét cẩn thận và trình lên nhà vua từ cuối tháng 4. Lễ hội sẽ được chuẩn bị trước 5 ngày. Trong những ngày này, Bộ Lễ sẽ tâu lên vua tế đàn Tiên Nông. Vào đầu giờ Tý, ty bộ Lễ sẽ đến bày trí bài vị và lễ vật gồm trâu, dê, lợn, xôi và 5 mâm quả. Đầu giờ canh 5 ngày lễ Tịch điền, quan Phủ doãn Thừa Thiên mặc lễ triều phục đến đàn Tiên Nông thực hiện lễ tế, sau đó đến lễ Tịch điền của nhà vua.

Trước lễ Tịch Điền, Bộ Lễ dâng lên vua danh sách hoàng thân hoặc hoàng tử tước công và các quan văn võ cấp lớn để vua chọn ra 12 người (3 hoàng tộc, 9 quan lớn) cùng hành lễ với vua. Và quan phủ Thừa Thiên phái thuộc hạ đến Võ Khố nhận roi, cày, cùng thóc, thúng và các vật dụng khác. Sau đó cung nghinh tới án vàng trước thềm điện Cần Chánh, báo cáo cho bộ Hộ rõ để trình vua và “rước vua thân hành duyệt đồ cày”. Đến đúng ngày lễ, bộ Lễ cùng với phủ Nội Vụ, Võ Khố sắp xếp bàn thờ rồi rước vua làm lễ. Đúng canh 5, sau ba hồi trống giả vang động một góc trời, trâu vàng, trâu đen, kỳ lão nông phu đồng trang phục cùng cày, bừa phải có mặt tại vị trí đã định. Dàn ca sinh cũng bắt đầu cất lên bài ca về lúa. Hai bên bờ sở ruộng Tịch Điền còn có người cầm cờ ngũ sắc. Sau khi mọi thứ đã sẵn sàng, nhà vua đội mũ cửu long, áo bào vàng, mang đai ngọc được long trọng đưa kiệu đến làm lễ trang nghiêm. Đến đàn Tiên Nông, vua lên rửa tay rồi làm lễ tế 3 tuần rượu với đầy đủ nghi thức theo sự xướng tán của Bộ Lễ. 

Sau khi làm lễ xong, nhà vua sang thay áo quần chuẩn bị cày ruộng Tịch điền. Vua đội khăn đường cân, mặc áo long bào chẽn tay. Các quan dâng cày, dâng roi cày cho nhà vua. Nhà vua tay phải cầm cày, tay trái cầm roi bắt đầu cày ruộng. Phụ giúp có 2 kỳ lão nông phụ dắt trâu và 2 người đỡ cày. Nhà vua cày ruộng đến đâu, hoàng tử và quan Thượng thư Bộ Hộ theo sau mang thúng thóc vừa đi vừa rắc hạt giống. Xung quanh, hơn 30 người phất cờ ngũ sắc hòa theo tiếng nhạc trầm vang. Vua cày xong ba luống thì trao cày và roi cho quan Phủ doãn Thừa Thiên và Thượng thư Bộ Hộ. Sau đó, nhà vua ngự đến nhà Quan Canh để chứng kiến các quan, hoàng thân cày tiếp. Các hoàng tử, thân công cày 5 lượt, quan viên văn võ cày 9 lượt. Sau khi hoàn thành các nghi lễ cũng như nghi thức cày tịch Điền, nhà vua thay đổi phẩm phục đại triều, lên xe hoặc ngựa trở về cung. Khi vua vào cung, 5 phát súng lệnh lại nổ vang, báo hiệu vua đã về. Tất cả những người tham dự lễ Tịch điền đều được ban thưởng. Khi ruộng lúa chín, phủ doãn Thừa Thiên trông coi việc gặt hái cùng với một quan thuộc Bộ Hộ lựa chọn hạt giống để gieo vào Lễ Tịch Điền năm sau. Sản phẩm thu hoạch được mang về cất kho để nấu dùng trong tế Nam Giao, Xã Tắc và các miếu thờ.

Có thể thấy, Lễ Tịch Điền là chính sách khuyến nông độc đáo và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của triều đình và nhân dân lúc bấy giờ. Không chỉ là nghi thức tượng trưng, qua đây, nhà vua càng cảm thông và đưa ra những biện pháp cụ thể để chia sẻ nhiều hơn với nỗi vất vả gian lao của người làm nông lúc bấy giờ.

Đất nước Việt Nam vốn là một đất nước thuần nông nên lễ Tịch Điền trở thành một nét văn hóa đặc trưng, không chỉ ở Huế mà còn nhiều miền khác. Nếu bạn yêu mến lễ hội Huế, thăm Huế vào tháng 5 âm lịch có thể sẽ có cơ hội được tham dự hay chứng kiến Lễ tịch điền, song nếu bạn thăm Huế ở thời điểm này, không phải dịp Lễ Tịch Điền nhưng vẫn có thể được nghe chuyện về ngày lễ hội tiêu biểu này, khi khám phá tìm hiểu về lễ hội địa phương./.

Read More

Lễ Rước Hến - một lễ hội dân gian đặc sắc của mảnh đất Vĩ Dạ nên thơ

Post By: Loan Kim May 2, 2021 0 Comment(s) Huế

Xứ Huế nổi tiếng với cơm hến – một món ăn dân dã nhưng hết sức thanh tao, ý vị. Thế nhưng mấy ai biết, để cung ứng những con hến nhỏ li ti lăn tăn làm món cơm hến, có một làng hàng trăm năm nay, quanh năm suốt tháng phải lặn hụp trên dòng Hương giang để cào dũi, và họ có hẳn một lễ cúng hến rất trang trọng, đó là “Lễ Rước Hến”.

Theo thường lệ hàng năm, cứ vào gày 24 tháng 6 âm lịch, tại phường Vĩ Dạ, thành phố Huế lại diễn ra Lễ Rước Hến vô cùng đặc sắc. Đây không chỉ là một lễ hội truyền thống của mảnh đất Vĩ Dạ nên thơ, mà nó còn là sự kiện biểu trưng cho nét đẹp văn hoá và tinh thần của người dân xứ Huế.

Lễ Rước Hến thực chất là một “hương lễ” của làng Cồn Soi – phường Giang Hến (thuộc xã Phú Xuân cũ), nay thuộc phường Vĩ Dạ. 3 năm một lần sẽ làm lễ lớn, kéo dài từ 2 đến 3 ngày, ngày chính lễ là ngày 24 tháng 6 âm lịch. Năm thường thì làm tiền lễ (chỉ đi rước) và cây phan (cây tre buộc tấm lụa đỏ) cắm giữa sông sẽ nhỏ hơn, không có điểm hội đồng như đại lễ.

Tương truyền, Niên hiệu Thành Thái thứ 4 (Nhâm Thìn 1892) ở phường Giang Hến có bà Trần Thị Thẹp đi “tròng” (thuyền nhỏ) ra dũi hến ở vùng sông trước đình Hương Cần (huyện Hương Trà), bị hương lý xã kéo ra bắt, đưa “tròng” của bà Thẹp lên bờ đòi chịu nộp thuế phạt, với lý do “Hến về làng, thành hoàng về miếu”. Dân phường Giang Hến hay tin, làm đơn kéo nhau đi kiện. Kết quả vụ kiện hy hữu này được Vua Thành Thái hạ bút phê: “Thượng từ nguyên đầu, hạ chí hải khẩu” (Nghĩa là: Từ đầu nguồn đến cuối sông biển, ao hồ chịu thuế, sông nước được dùng tự do). Ðược thắng kiện, phường Giang Hến kết long đình trên thuyền, trang trí cờ lọng đi rước bản châu phê về làm lễ tạ, và buộc dân Hương Cần theo lệnh vua phải thả bà Thẹp, và trả chiếc “tròng” của bà xuống nước. Dân phường Giang Hến cho rằng: sở dĩ làng được kiện là nhờ thần sông phù hộ, cho nên dân làng lấy ngày này làm ngày lễ tế hàng năm.

Ngày nay, lễ hội được bắt đầu bằng việc kết thuyền trang trí long trọng, có án thờ giữa thuyền ở đầu cồn Hến (ngã ba sông Hương). Ở giữa sông cắm cây đại phan, gọi là “Hội đồng thần kỳ” do các bô lão túc trực.

Một đoàn thuyền khác, mỗi thuyền đều trang trí cờ lọng, án thờ kết hoa, có trống, chiêng, phường nhạc bát âm, xuất phát từ “Hội đồng thần kỳ” trung tâm, toả đi hai hướng thượng nguyên và hạ nguyên gọi là cung nghinh thần kỳ sông nước các nơi.

Khi đến mỗi địa điểm, chọn nơi có điều kiện, bày hương hoa, quả phẩm, gạo muối làm lễ nghinh rước, đủ 3 tuần rượu rồi cung nghinh về điểm xuất phát. Sau đó lên bờ trở về nhà thờ họ Nguyễn (nhà thờ chung 12 họ khai canh của xã Phú Xuân) để làm lễ rước thần khai canh cùng về đình hiệp tế.

Tất cả người tham dự hội lễ toàn là nam giới, gồm các vị bô lão, trung niên và lớp thanh niên. Ðám rước thần sông nước gồm một số người mặc áo dài đen, thắt lưng bằng vải đỏ gánh án thờ chính ở điểm hội đồng. Phía trước có một số người mặc áo dài đen, thắt lưng vải đỏ, cầm chèo thuyền phân làm hai hàng, vừa đi vừa làm động tác chèo thuyền và cất giọng hò mái đẩy, có kèn trống, giàn nhạc phụ hoạ gọi là “chèo cạn”.

Ðoạn cuối là các chức sắc trong phường cùng với dân làng, ăn mặc y phục cổ truyền đi theo đám rước để hầu thần. Trước khi đám rước vào đình còn phải ghé vào nhà thờ họ Nguyễn để làm lễ rước thần về hợp tế.

Lễ Rước Hến mang một ý nghĩa cao đẹp của tập thể, những con người sống trên sông nước ở một vùng sông nổi tiếng ở Thừa Thiên: Cồn Hến, nơi đặc biệt sản xuất loại hến nhỏ và ngon ngọt để làm nên món cơm hến độc đáo, ngon lành của xứ Huế./.

Read More

Lễ tế Xã Tắc, một nghi lễ truyền thống của mảnh đất Cố đô Huế

Post By: Loan Kim April 26, 2021 0 Comment(s) Huế

Không náo nhiệt, ồn ào như nhiều lễ hội ở khắp nơi trên đất nước, xứ Huế vẫn giữ riêng cho mình những lễ hội dân gian truyền thống thu hút đông đảo du khách về tham dự. Một trong những số đó là “Lễ tế Xã Tắc”.

Đàn Xã Tắc được xây dựng và cuối mùa xuân năm 1806, sau khi vua Gia Long quy hoạch lại toàn bộ Kinh thành trên đất của 8 làng ở bờ sông Hương. Đây là một trong những di tích cung đình đặc biệt quan trọng của Cố đô Huế. Dưới thời nhà Nguyễn, được xếp cùng hàng với đàn Nam Giao và Ngũ miếu trong Hoàng thành (Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và Phụng Tiên Miếu), công trình này là một trong những “Miếu Đàn” trọng yếu của triều đình và hoàng gia.

Đàn  ở phía Tây Hoàng Thành, đúng theo nguyên tắc “Mô Tổ, Chủ Xã” (bên trái nhà thờ Tổ, bên phải xã Tắc) của thành trì phương Đông. “Xã” là vị thần quan trọng nhất trong 5 vị thần, “Tắc” là lúa – quý nhất trong ngũ cốc. Vì là thờ Đất và Lúa nên đất để xây dựng Đàn xã tắc toàn bộ, định, trấn trong toàn quốc theo lệnh vua, phải đóng góp đất sạch để đắp đàn. Như vậy, đàn Xã Tắc tượng trưng cho đất đai cả Tổ quốc, nghĩa của đàn Xã Tắc vì thế càng thêm linh thiêng.

Đàn Xã Tắc được đắp lộ thiên, bao gồm hai tầng, hình vuông, mặt nhìn về hướng bắc. Tầng trên cao 1,60m, cạnh dài 28m, mặt nền tô 5 màu theo nguyên tắc của ngũ hành: giữa màu vàng, đông màu xanh, tây màu trắng, nam màu đỏ, bắc màu đen. Trên nền còn đặt 32 bệ đá để cắm tàn. Tầng dưới cao 1,20m, cạnh dài 70m, nền trước lát gạch, hai bên có tấm nền để tàn. 

Tại Đàn Xã Tắc sẽ có đồ thờ, hương án, vật phẩm, lính canh, quan văn tứ phẩm, quan võ lục phẩm, chấp sự, bồi dưỡng … Theo Kinh Lễ thì Đàn Xã Tắc được xây dựng phải có nền ” Xã “để tế. Hai tầng nền của đàn Xã Tắc tọa lạc trên một khu đất rộng, vuông vức, xung quanh có tường đá bao bọc. Nam có bình phong, ở ba bên Đông, Tây, Nam có cửa nhỏ, riêng ở phía bắc (mặt trước) thì dựng cửa tam quan. Trong vườn cây trồng nhiều thông tin và mai, hai bên đường từ bên dưới đường dẫn ra cổng tam quan trồng hai hàng cây mù nền. Vì vậy mà dân gian Huế có câu: “Văn thánh trồng thông / Võ thánh trồng / Ngó vô xã Tắc hai hàng mù u” . Trước cửa tam quan, phía Bắc có con đường ngăn cách với hồ Xã Tắc. Hồ rộng, hình vuông, cạnh 57m, nước trong xanh trong bóng đàn Xã Tắc xuống mặt hồ.

Ngày nay, Đàn Xã Tắc không chỉ là một trong những lịch sử được khách hàng tìm đến tham quan, mà ở đây có một hoạt động văn hóa lễ hội vô cùng độc đáo đó chính là “lễ tế Xã Tắc”. Lễ tế Đàn Xã Tắc được tổ chức mỗi năm hai lần vào mùa xuân và mùa thu, xếp vào hàng Đại tự, chỉ đứng sau lễ tế Nam Giao. Hầu như tất cả các vị vua Nguyễn đều từng chủ trì lễ tế quan trọng. Theo quy định của triều Nguyễn, vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nhà vua đích thân làm lễ tế Đàn Xã Tắc, những năm còn lại các quan đại thần thay nhau thực hiện công việc này.

Lễ hội đã được tổ chức trước ngày tế lễ 1 ngày. Trước khi tế lễ, các con đường từ Đại Nội đến Đàn Xã Tắc phải được quét dọn sạch sẽ. Trước đó, từ nhà vua đến văn võ bá quan, mọi người tham gia vào lễ tế Xã Tắc cũng phải giới hạn, chạy tịnh tiến để giữ mình trong sạch.

Vào sáng sớm của ngày tế Xã Tắc, cờ ở Kỳ Đài kéo lên, hiển thị vị trí chuẩn, kết xuất phát từ điện Cần Chánh ra cửa Đại Cung Môn. Bảy súng lệnh phát ở Kỳ Đài nổ vang. Đoàn Ngưng giá ra khỏi cửa môn rẽ hướng, rồi qua hướng bắc, đến đàn tế.

Lễ tế xã tắc được diễn ra với các công thức: Lễ Quán tẩy (Lễ tẩy trần), Lễ Thượng hương (Lễ dâng hương), Lễ Nghinh thần (Lễ thần tham dự), Lễ Điện ngọc bạch (Lễ ngọc trắng ), Lễ Truyền chúc (Lễ đọc chúc văn), Lễ hiến tặng (Lễ rượu), Lễ Tứ phúc phần (Lễ hưởng lộc), Triệt soạn (Lễ hạ), Tống thần (Lễ trao tặng thần), Tư chúc bạch soạn (Lễ thiêu văn, ngọc lụa, bài vị).

Để chuẩn bị cho lễ tế Xã Tắc, Bộ Lễ phải chỉnh sửa sang, bày biện đầy đủ lễ vật, đồ thờ và hương án. Hôm nay chính lễ, hai bên đường Ngọ Môn có các đội quân và cờ quạt uy lực, đèn thâu đêm sáng. Trên hương án ở đàn tế, ngoài các trượng thứ và đồ thờ thường có thêm lễ tam sinh gồm ba con vật: trâu, dê, lợn. Đặc biệt, có đội quân hơn 700 người tham gia lễ với đầy đủ các bảo vệ nghi thức, quan văn võ, binh lính, đội nghi trượng, đội nhã nhạc, vũ công Bát dật, với, ngựa, chuông trống, Võng lọng, cờ quạt… khởi động đoàn ngự đến đàn Xã Tắc. Sau đó đoàn ngẫu nhiên tiến hành cử hành lễ trong không khí trang nghiêm và linh hồn.

Trước bàn thờ lớn, nhà vua đội mũ dài, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, thân làm chủ tế. Sau lưng nhà vua, văn võ bá đạo chỉnh tề, hàng ngũ đường ngắn, nét mặt trang nghiêm, kính cẩn thận đầu hành lễ.

Hội diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm với nhiều nghi thức thành kính. Ngay sau lễ tế chính thức, khi vua hồi cung, dân chúng mới được đưa lên đàn hương cầu cho mưa gió hòa, mùa bội thu, đời không ấm.

Với nhiều lễ hội truyền thống khác, Lễ tế Xã Tắc cũng đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho xứ Huế. Cố đô Huế “hội tụ” nhiều văn hóa lễ hội đặc sắc đang chờ du khách khám phá./.

Read More

Về xứ Huế, chớ bỏ qua đặc sản trứ danh Mắm Sò

Post By: Loan Kim April 26, 2021 0 Comment(s) Huế

Vùng biển Lăng Cô vốn nổi tiếng với nhiều hải sản tươi sống như tôm, cua, sò lông, sò huyết, vẹm, hàu,… Trong số đó, sò là loại rất được ưa chuộng và thường được đem làm mắm, gọi là Mắm sò. Có thể nói đây là một trong những đặc sản trứ danh của mảnh đất Cố đô Huế.

Mắm sò được chế biến từ con sò lông, hay người địa phương vẫn thường gọi là “con sặc”.  Sò lông thường bị nhầm lẫn với sò huyết vì hình dáng khá giống nhau. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy sò lông lớn hơn sò huyết. Sò lông có hai mảnh vỏ hình bầu dục, da có vỏ màu nâu phát triển thành lông.

Loại hải sản này hầu như có mặt quanh năm, chỉ trừ những thời điểm mưa gió vào tháng 9 – 10 khi mà nước dâng cao không thể đi bắt được, còn lại người dân đi cào quanh năm. Đến mùa cào sò, chỉ cần một cái bàn cào nhỏ, thêm một cái lồng là có thể ra biển để cào. Công đoạn cào sò cũng không hề đơn giản, cần phải thực sự kiên nhẫn ngâm mình hàng giờ dưới nước mới có được sò để làm mắm.

Không giống với mắm cá, mắm tôm, mắm sò lại có hương vị rất đặc biệt, bởi nó được người dân Huế chế biến với bí quyết riêng của mình. Sò sau khi được cậy vỏ lấy thịt, đem rửa thật kỹ cho sạch các bên trong. Để sò không bị nở to, khiến cho mắm sò bị hỏng thì sò được rửa rất nhanh rồi vớt lên. Sau đó, để ra rổ cho ráo nước chừng 1 tiếng. Sau khi đã ráo nước thì cho vào thau nhựa, cho muối sống đã được giã mịn rồi, cứ tỉ lệ 10 chén sò thì cho 2 chén muối. Để mắm sò ngon thì phải cân đo đong đếm làm sao để mắm đừng quá mặn, cũng đừng quá nhạt. Cuối cùng, trộn thật đều tay thau sò cùng với ớt, riềng rồi cho vào hũ thủy tinh hoặc thau nhựa đậy kín nắp. Bảo quản mắm sò trong vòng 8-10 ngày là có thể lấy ra thưởng thức. Đặc biệt, mắm sò để càng lâu thì ăn càng ngon, mà hầu như loại mắm nào cũng vậy chứ không riêng gì mắm sò.

Mắm sò múc ra có màu đỏ au, trông rất bắt mắt. Đặc biệt, mắm đặc sệt, còn nguyên ruột sò. Khi ăn, người ta cho thêm các gia vị như đường, bột ngọt, tỏi, ớt băm nhỏ hoặc cho thêm ít đu đủ bào. 

Để cảm nhận vị ngon đúng chuẩn của mắm sò thì phải ăn kèm với đúng nguyên liệu thì mới tăng độ hấp dẫn được. Mắm sò muối lên rất thơm, ăn với cơm nóng là ngon nhất. Ngoài ăn với cơm nóng, người ta còn dùng mắm sò như một loại nước chấm giống như mắm tôm, mắm ruốc, xì dầu chẳng hạn. Mắm sò ăn với cơm nóng đã ngon, ăn cùng rau sống, khế chua, chuối chát, dưa giá kẹp thịt ba chỉ lại càng ngon hơn. Khi kết hợp tất cả các nguyên liệu này lại với nhau, bạn sẽ cảm nhận được vị mặn của mắm, vị chua của khế và vị béo của thịt ba chỉ hòa quyện. Thật là khó cưỡng lại được!

Mắm sò dù không quá đặc sắc nhưng lại là món ăn đọng vào lòng người. Cái hương vị của mắm sò đọng lại trong khoang miệng, vị mặn mặn của mắm, vị dai ngon của sò, vị chua chua ngot ngọt tạo ra vị hài hòa đánh thức vị giác ngay từ lần đầu tiên.

Cùng với món tôm chua, mắm ruốc, mắm sò là đặc sản của đất Cố đô. Khi bạn đặt chân đến Huế thế nào cũng được mời thưởng thức. Chắc chắn đây là món ăn lạ miệng, ngon và bổ, ăn mãi không nhàm, dùng trong bữa ăn hằng ngày hay trong các đám tiệc, hoặc dùng làm quà biếu đều có giá trị./.

Read More

Khám phá Tục thờ ngựa độc đáo của xứ Huế

Post By: Loan Kim April 22, 2021 0 Comment(s) Huế

Hình tượng Ngựa xuất hiện từ rất lâu đời trong văn hoá Việt Nam nói chung và văn hoá xứ Huế nói riêng. Con ngựa là một trong những loài vật được con người thuần hoá và sử dụng trong đời sống hàng ngày. Ngựa là con vật thông minh, khôn ngoan, nhanh nhẹn cho nên nó được chọn là con vật kề vai sát cánh cùng con người xông pha trận mạc.

Trong tâm thức

Con ngựa là một con vật đặc biệt, tham gia vào biểu tượng song nghĩa, đa nghĩa. Từ chỗ là bản thể của vô thức tâm linh, là bản năng của dục vọng sâu thẳm hay cõi mịt mù của bóng tối, ngựa đã vượt lên theo từng nấc thang để thụ pháp và chuyển thể thành con vật biểu tượng của thần linh, ánh sáng của mặt trời và cũng là biểu tượng của nhân cách và trí tuệ.

Tục thờ ngựa của người dân xứ Huế

Có thể nói trên cả nước ta hiếm có địa phương nào thờ con ngựa như ở xứ Huế. Có đến gần 100% dân số ở Huế lập am, miếu để thờ, từ trong nhà ra đến sân, trong số các am miếu phổ biến nhất là miếu thờ các cô, cậu, ông chiêm thành, ông quận, ở đó họ đều có thờ con ngựa – con vật linh thiêng, gồm ngựa đá, ngựa giấy và ngựa gỗ; màu sắc chủ yếu đỏ và trắng tượng trưng cho một vị thần.

Trong dân gian thường quan niệm, âm dương nhất lý (tức lúc sống thế nào, chết cũng như vậy), họ quan niệm khi các vị thánh còn sống dùng ngựa để xuất quân ra trận, dẹp loạn đem lại bình yên cho đất nước nên khi chết có lẽ dưới âm dương hoặc trên trời cao vẫn thế các vị thần dùng ngựa để đi lại, đi chầu, hoặc giảng đạo…

Theo đó, ngựa đỏ dùng cho cho tôn ông ngự giá, chu du, hành đạo (6 tôn ông: gồm ngài đệ nhất, đệ nhị, đệ tam giám sát, đệ tam thủy phủ, đệ ngũ, đệ nhị ngoại), còn ngựa trắng là để thờ các cậu ngoại càng.

Trong tứ phủ đền thần, 2 loại ngựa này được thờ để tôn ông đi chầu. Và khi làm ngựa để thờ, người thợ làm ngựa phải hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như ngựa dùng ở cõi nào, ví dụ ở “cõi thượng thiên” (cõi trên trời) thì phải làm khác với ngựa thờ ở am miếu “cõi trung thiên” (cõi trần gian). Do tôn ông ngự giá ở cõi thượng thiên nên khi làm ngựa thờ ngựa đó phải có cánh, vì ở cõi trời nên ngựa có cánh dùng để bay, còn ở cõi trung thiên thì làm ngựa như ngựa ra chiến trận bình thường, có yên ngựa, dây cương, đao kiếm để ra trận…

Người dân Huế quan niệm, ở trên trời cao, giữa dân gian và âm phủ các đức thánh cũng dùng ngựa để đi chầu, đi hành đạo nên khi họ đặt am miếu thờ cúng phải thờ ngựa thể hiện lòng thành kính của mình đối với các vị thần thánh của đất nước, những vị thánh đã có công mở mang bờ cõi, giữ vững bình yên cho đất nước. Cho nên, các am, cảnh, miếu ở Huế, người dân thờ ngựa đá là như thế.

Ngày nay, khi dâng cúng ngựa cho các cõi, người ta thường làm con ngựa to nhất bằng màu đỏ để dâng cúng cho tôn ông và những con ngựa nhỏ bằng màu trắng để cúng cho các cậu ngoại càng.

Cứ mỗi dịp xuân đến, Tết về người dân Huế lại tất bật chuẩn bị chu đáo trang hoàng nhà cửa, trong số những vật dụng như chúng ta thường thấy là vàng mã, áo binh, giấy tiền vàng bạc tiền, xe hơi,… thỏi vàng thì không thể thiếu hình ảnh những con ngựa giấy được làm giống y như thật để đốt trong dịp cuối năm, trong đêm giao thừa đầu năm mới.

Hình ảnh Ngựa chiếm một vị trí rất đặc biệt trong am miếu, đền đài, lăng mộ

Chính vì việc trân trọng thờ ngựa như thờ một trong những con vật linh thiêng ở Huế nên ngựa cũng chiếm một vị trí rất đặc biệt trong am miếu, đền đài, lăng mộ… Ví như ở đền thờ Hưng Đạo Đại Vương ở 399 đường Chi Lăng, cặp ngựa đá được làm y như ngựa thật, màu đỏ, được đặt trang trọng trước đền, hai con đối xứng nhau trong tư thế sẵn sàng bất cứ lúc nào ngài xuất quân, còn ngựa trắng được người dân Huế thờ phổ biến nhất ở các am miếu ngoài trời.

Đặc biệt, khi vào tham quan lăng mộ các vua nhà Nguyễn ở Huế, khách du lịch cũng thường bắt gặp hình tượng con ngựa luôn xuất hiện hoành tráng tại nơi chốn linh thiêng này.

Con ngựa có mặt trong 6 khu lăng của các vua nhà Nguyễn, từ lăng Gia Long xây dựng vào đầu thế kỷ thứ 19 tới lăng Khải Định xây vào thập niên 20 của thế kỷ trước, trừ lăng vua Dục Đức. Do tuân thủ những nguyên tắc chung khi kiến tạo sơn lăng cho các bậc đế vương, lăng các vị vua nhà Nguyễn luôn có bi đình và bái đình. Bi đình là nhà bia, nơi dựng tấm bia ca ngợi công đức của chủ khu lăng tẩm, còn bái đình là sân chầu dành cho các vị vua kế nhiệm và đình thần văn võ đến bái lạy trong các dịp húy nhật, lễ kỵ. Đó cũng là nơi ngựa góp mặt. Mỗi bái đình đều có hai tượng viên văn võ và voi ngựa chầu hầu, trong đó ngựa đứng vào bậc ba, sau văn quan, võ quan và trên những ông tượng.

Tuy nhiên, không phải ngựa ở lăng nào cũng có cách thể hiện và chất liệu giống nhau mà tùy theo thời thế. Con ngựa trong các lăng vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Khải Định được tạc bằng đá thanh, ngựa trong lăng vua Tự Đức được làm bằng vôi và vữa ô dước, nhưng ngựa trong lăng Đồng Khánh lại được đúc bằng xi măng. Còn vóc dáng cũng hoàn toàn khác: Nếu con ngựa trong lăng Gia Long có dáng vóc rắn rỏi, kiêu dũng thì ngựa trong lăng Minh Mạng lại to mập, uy nghi và đường bệ, ngựa trong lăng Tự Đức thì thấp lùn, lại được những bàn tay vụng về của lớp thợ nề hậu sinh tu chỉnh trong các lần tu bổ di tích nên đã biến con vật gần gũi này giống… lừa hơn. Trong khi đó, ngựa trong lăng Đồng Khánh cao gầy và có vẻ yểu tướng, phải chăng cho phù hợp với số mệnh của chủ lăng, vốn là một ông vua vắn số yểu mệnh, băng hà khi mới 25 tuổi. Chỉ có ngựa trong lăng Thiệu Trị mới xứng đáng là ngựa của vua, vóc dáng thanh thoát, tràn đầy sinh lực và được chạm trổ tinh tế, hoàn mỹ.

Vì là biểu tượng của thiên tử, nên Ngựa còn xuất hiện trên Cửu đỉnh nơi Thế Tổ Miếu và trong Khải Thành Điện của lăng vua Khải Định.

Là người uyên bác Nho học và rất yêu thích thơ ca, vua Thiệu Trị đã cho minh họa trong những bài thơ ngự chế của mình hình ảnh “con ngựa nhâm nha gặm cỏ, chờ các bậc vương tôn công tử đang mải chuyện với các giai nhân dưới những rặng liễu ven hồ” đầy lãng mạn, để vua treo trong Hòa Khiêm Điện và Long An Điện.

Không chỉ hiện diện ở nơi linh thiêng lăng mộ các vua nhà Nguyễn hay tranh mà cả trên đồ sứ ký kiểu, con ngựa cũng có mặt khá hoành tráng: Những chiếc bát sứ, những chiếc đĩa bàn trong bộ trà ký kiểu triều Tự Đức, hiệu đề: Tự Đức niên chế, Nhật hay Ngoạn ngọc, với các đồ án: liễu mã, mã đáo thành công, bát mã hay ngựa qua cầu.

Còn đằng sau câu dân gian nổi tiếng ở Huế: “Mê gì như mê tổ tôm. Mê ngựa Thượng Tứ, mê nôm Thúy Kiều” lại là điển tích hay khác về ngựa ở cửa Thượng Tứ, sau việc ngựa xuất hiện ở lăng các vua nhà Nguyễn, thì nơi đất thần kinh còn nhiều bí mật hấp dẫn và mê hoặc tiếp tục được “giải mã”…

Văn hóa Huế cũng như những phong tục tín ngưỡng là một trong những điểm nhấn hấp dẫn không thể bỏ qua trong hành trình du lịch của bạn. Một Huế thơ mộng, đáng yêu như vậy là nơi mà tất cả du khách yêu thích sự yên bình muốn đặt chân./.

Read More
  • Prev
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • Next

Contact info

  • Address: 11/61 Le Minh Street An Dong Ward, Hue City, Vietnam
  • Phone: (+84) 913 479 171
  • Email: loankimhomestay@gmail.com
  • TDP-2
  • TDP-17
  • TDP-18
  • TDP-19
  • TDP-32
  • TDP-42
  • TDP-45
  • TDP-46
  • TDP-47
  • LK-coffee
  • lk-st
  • PrivateRoom-2

©2021 Loan Kim Homestay All Rights Reserved.

©2026 WordPress Theme SW Kingplace. All Rights Reserved. Designed by WPThemeGo.Com.

X
x
Login in or create account

Or
  • Menu
  • Home
  • Room
  • Visit Hue
  • About Us
  • Contact Us
  • English
    • Vietnamese