Loan Kim Homestay
  • Home
  • Room
  • Visit Hue
  • About Us
  • Contact Us
  • English
    • Vietnamese

About blog

about
Lorem Ipsum is simply dummy text of the printing and typesetting industry. Lorem Ipsum has been the industry’s standard dummy text ever since the 1500s,

Categories

  • Blog (31)
  • Uncategorized (1)

Popular Tag

Huế hội vật làng sình điện hòn chén

Archives

  • June 2021 (6)
  • May 2021 (12)
  • April 2021 (11)
  • March 2021 (3)

Huế

Hát Chầu văn trong tín ngưỡng thờ Mẫu tại mảnh đất Cố đô Huế

Post By: Loan Kim April 22, 2021 0 Comment(s) Huế

Cố đô Huế, mảnh đất thần kinh, nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hóa lịch sử của vương triều nhà Nguyễn. Bên cạnh Nhã nhạc Cung đình, Ca Huế thì còn tồn tại một loại hình mà ít người biết tới đó là “Hát Chầu văn” trong tính ngưỡng thờ Mẫu.

Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XX, thời kỳ nhà Nguyễn (1802-1945), Huế là Kinh đô của cả nước đã kết tinh, hội tụ nhiều sắc thái văn hóa trong đó âm nhạc thấy khá rõ nét. Ngoài những làn điệu như hò, vè , lý, nhạc Cung đình, nhạc Nghi lễ thì hình thành một thể loại mới gọi là nhạc Chầu văn.

Nhạc Chầu văn chính là quá trình biến lời trên những bài văn chầu được cấu thành bởi những khổ thơ lục bát hoặc song thất lục bát thành nhạc điệu. Nội dung của nó diễn đạt sự tích ca ngợi các vị Thánh – Thần – Tiên được thờ trong điện, gắn liền với những truyền thuyết và câu chuyện dân gian.

Chầu văn Huế có đặc trưng riêng, trên cơ sở hệ thống thang âm cổ truyền (thang năm âm – ngũ cung) của vùng Bắc Trung bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Nhịp điệu cũng là một trong những yếu tố tạo nên tính chất đặc trưng của nó. Ở đây phổ biến là nhịp 2/4, ngoài ra còn có nhịp 3/7 nhưng ít khi sử dụng, nếu dùng thì ở trong bản văn thỉnh Hội đồng.

Ngoài việc sử dụng những làn điệu chính gốc như giọng Phú, Sắp, Thượng, Đài, Quảng, Cờn còn kết hợp những thể biến cách, kế thừa những làn điệu dân ca miền Bắc như Long lành, Trống quân, Ta lý, hát Thượng.

Dàn nhạc trong Chầu văn cơ bản gồm có đàn Nhị, đàn Nguyệt, đàn Bầu, sáo, bộ gõ có phách, trống, sau này bổ sung thêm đàn Ghitar phím nhún. Nhưng tùy theo điều kiện kinh tế mà có thể có nhiều hơn hoặc ít hơn. Đôi khi người ta chỉ cần 3 nhạc cụ, đàn Nguyệt, phách, trống là có thể hát trong buổi hầu đồng.

Chầu văn Huế với lối hát đơn, hát đôi, hát tập thể, có khi cả ban công văn (8 đến 10 người) cùng đứng hát và nhảy múa hát theo từng tính chất “giá hầu”.

Về môi trường diễn xướng, Hát Chầu văn là loại hát thờ, là lối hát trước bàn thờ Thánh (bao gồm cả lên đồng) gắn bó chặt chẽ với nghi lễ tín ngưỡng tại am, điện thờ Thánh Mẫu. Là loại văn để hầu bóng, gọi là văn ca thỉnh hàm (được thể hiện thành lời ca, hát), thỉnh mời các vị thần thánh giáng trần, hóa vào các con đồng để phán bảo (lên đồng là sự hóa thân vào một vai thần, thánh, hay ma quỷ linh thiêng trong hành lễ, tức là thần, thánh, ma quỷ đã nhập vào người ngồi đồng…).

Đặc điểm của hát Chầu văn là quá trình hành lễ gắn liền với hình thức sinh hoạt lên đồng, hầu bóng mà ở đó, con đồng sẽ hóa thân vào các vị thần linh để phán truyền, dạy bảo, chữa bệnh hay ban phát tài lộc cho những người tham gia buổi lễ. Trong suốt thời gian tiến hành nghi lễ lên đồng, hầu bóng, âm nhạc Chầu văn đóng vai trò quan trọng, có tính cách phù phép, với mục đích thôi miên người ngồi đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho con đồng nhập bóng, và giúp việc nhập hồn của các vị thần linh vào con đồng được linh ứng.

Là một hình thức diễn xướng dân gian khá nguyên sơ với tính sân khấu, có thể tách ra trình diễn, chọn một số GIÁ (liên khúc) của hầu bóng về diễn xuất để nhập vai. Cô Đôi Thượng ngàn, cậu Bơ… là những nhân vật trình diễn cho người xem những màn kịch múa, hái hoa, bắt bướm, chèo đò, múa dao, cưỡi ngựa… thật sinh động và hấp dẫn.

Hát Chầu văn Huế được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa vốn âm nhạc truyền thống của dân tộc để phục vụ cho mục đích tín ngưỡng của các tín đồ thờ Mẫu. Nó mang những giá trị văn hoá tinh thần rất sâu sắc, vừa thể hiện nhu cầu thẩm mỹ vừa thể hiện ước vọng tâm linh của con người trong cuộc sống. Vì vậy, âm nhạc Chầu văn Huế không chỉ là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng – văn hoá cộng đồng mà còn là một loại hình âm nhạc dân gian độc đáo cần được giữ gìn và phát huy trong đời sống hiện đại để làm phong phú thêm món ăn tinh thần cho người dân./.

Read More

Cúng đất - Lễ "Tạ thổ kỳ yên" độc đáo của người dân xứ Huế

Post By: Loan Kim April 21, 2021 0 Comment(s) Huế

Đã bao đời nay, dù đất nước thăng trầm qua nhiều biến cố chiến tranh, giặc giã, nhưng từ khắp làng mạc, xóm thôn đến chốn phố xá, thị thành đều có tục cúng đất. Với xứ Huế tâm linh thì cũng không là ngoại lệ.

Tương truyền, khi Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân của nước Chiêm Thành vào năm 1306, Đại Việt ta nhận được sính lễ từ vua Chăm là vùng đất 2 châu: Châu Ô, Châu Lý (Châu Rí). Tính theo ngày nay là vùng đất phía Nam tỉnh Quảng Bình cho đến phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi. Như vậy, cư dân ở vùng đất này vốn là cư dân của Vương quốc Chămpa, theo suy nghĩ của người Đại Việt lúc bấy giờ vùng đất này là vùng đất xa lạ, họ chưa quen thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình cho nên khi vào đây lập nghiệp họ mang trong mình sự tôn kính đối với người dân bản địa và các vị thần linh ở đây. Từ đó, họ có lệ cúng Đất như là việc mong thần linh và những linh hồn người bản địa từng cư ngụ ở đây phù hộ độ trì, chấp thuận cho sự có mặt làm ăn sinh sống của cư dân Đại Việt ta. Và cho đến ngày nay, vùng đất xứ Kinh kỳ đầy tâm linh này vẫn luôn giữ nét truyền thống ấy một cách đầy thành kính.

Cúng đất là dịp để gia đình, bạn bè họp mặt sau khi mùa vụ đã gặt hái xong. Tục lệ này nhằm thắt chặt tình cộng đồng hàng xóm, láng giềng. Cúng đất còn là dịp để các bà, các chị thể hiện sự khéo léo, giỏi giang trổ tài nữ công gia chánh. Tục lệ cúng đất không nặng yếu tố mê tín dị đoan, mà thể hiện tấm lòng “uống nước nhớ nguồn”, tri ân, biết ơn tổ tiên.

Hàng năm, cứ 2 lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch, mỗi gia đình Huế lại làm lễ dâng cúng cho các vị thần thành hoàng, ngũ phương, ngũ hành, thần đất, thần nhà, thần tiên sư các nghề, thần vườn, thần quản lục súc, thần che chở của cải, thần phúc đức, chủ đất, kho đất, thần cây gỗ, thần đường sá, thần cai quản các loại ma, núi đồi đầm phá, thần bảo vệ đất, cha đất, con đất, cháu đất, cửa ngõ, chúa quỷ miệng lửa và lực sĩ mặt cháy.

Đặc biệt trong lễ cúng này, chủ nhà thành tâm kính mời linh hồn cô đơn các ma Chàm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ, vì ốm đau đói khát mà chết; ma Lồi ma Lạc có tước vị mà không có tên, có tên mà không có tước vị cùng đến dự.

Một lễ cúng đất đầy đủ nhất có đến 3 bàn: bàn thượng, bàn trung và bàn hạ (bàn hội đồng). Ở bàn thượng chỉ có một con gà trống luộc, gồm huyết và lòng rắc muối hạt một con dao bằng tre, cùng một dĩa xôi trắng, phụ 5-6 chén chè; bàn trung gồm một con gà mái luộc đầy đủ lòng và huyết cũng rắc muối hạt đặt dao tre, một dĩa xôi trắng và một số chén chè. Tại bàn cúng này còn có 3 con cua bể, 3 quả trứng và 3 miếng thịt heo luộc đều có rắc muối sống. Ở bàn hạ bố trí một mâm cơm đầy đủ các thức ăn song phải có một dĩa ra tập tàng luộc (có thể thay bằng rau khoai) với nước mắm nêm, một gắp cá nướng, loại cá nhỏ và một khay khoai sắn luộc, một khay gạo sống muối sống, hột nổ ngũ sắc, đường đen, một nồi cháo trắng. Tất cả 3 bàn này đều có hoa quả, bát hương, cây đèn, ly nước, ly rượu, dĩa cau trầu. Ngoài ra còn có các loại vàng mã (đồ giấy), ở bàn thượng là một chiếc ngai có tàng, trên đặt mũ phương phát, một đôi hia, và một chiếc áo vẽ rồng có đai đeo. Ở bàn trung gồm trang phục của bà thổ, bà hỏa là 2 chiếc nón quai thao, 2 chiếc quần, 2 chiếc áo vẽ hình chim phụng, hai chiếc đãy cau trầu và hai chiếc quạt, năm bộ chủ Ngung Man Nương, gồm 5 chiếc nón chóp nhọn và 5 bộ áo quần, năm bộ Ngũ phương gồm 5 chiếc mũ, 5 đôi giày, 5 chiếc áo nhỏ, thập nhị Long Trạch gồm 12 chiếc áo đen. Ở bàn hạ, hội đồng, chỉ bày áo binh.

Ba bàn đặt trước nhà, gia chủ đứng từ trong nhà lạy ra. Khi gần xong lễ, gia chủ sẽ lấy bẹ chuối làm thành một chiếc túi đựng thức ăn, áo binh, giấy vàng bạc, treo ở cổng nhà hoặc ở góc vườn gọi là Xà Lẹc, dành cho những “người” qua đường. Vàng mã thì đốt đi, cháo thánh, gạo muối vãi lên trên khi lửa đốt sắp tàn.

Xong lễ, người Huế thường để lại cặp chân gà lễ để đem đi “xem giò” để gia chủ biết được cát – hung – họa – phúc trong năm của gia đình.

Tục cúng đất mang vẻ đẹp của văn hóa tâm linh, rất nhân văn. Vì thế dù hiện nay văn hóa truyền thống có nơi bị mai một nhưng xứ Huế vẫn lưu giữ tục lệ này. Đây là nét đẹp truyền thống của cha ông thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong việc tri ân “Ăn quả nhớ người trồng cây” đối với tiền nhân nơi mình sinh sống cũng như việc giữ gìn tinh thần đoàn kết, sự giao lưu văn hóa các vùng miền trong đại gia đình dân tộc Việt Nam./.

Read More

Lễ cúng bổn mạng đầu năm trong nét văn hóa độc đáo của Cố đô Huế

Post By: Loan Kim April 21, 2021 0 Comment(s) Huế

Có thể nói Cố đô Huế là một vùng đất nặng về đời sống tâm linh trong từng gia đình nên nghi lễ thờ cúng rất được xem trọng. Trong những nghi lễ ấy không thể không nhắc đến Lễ cúng bổn mạng đầu năm.

Theo truyền thống hàng năm, từ ngày mùng 4 – 16 tháng Giêng (tập trung nhiều nhất là tối mùng 8-9 tháng Giêng, vì đó là ngày “Tiên Sư giáng hạ”), người dân Huế thường tổ chức cúng bổn mạng đầu năm (thường gọi tắt là cúng đầu năm). Mục đích của lễ cúng bổn mạng là cầu cho thân mạng của người đàn ông hoặc đàn bà được vẹn toàn, thoát khỏi những “tai ương” và rủi ro trong cuộc sống thường nhật, ước nguyện gặp điều tốt lành trong năm.

Việc chuẩn bị lễ cúng Tiên Sư bổn mạng cũng được chuẩn bị tương tự như lễ cúng ông Công ông Táo và cúng gia tiên. Mâm cỗ cúng Tiên Sư bổn mạng bên cạnh cau trầu, rượu, xôi chè… tùy theo kinh tế mỗi gia đình có thể thêm đồ cúng mặn (xôi, gà, giò chả…), đồ cúng ngọt (hoa quả, bánh kẹo…), không thể thiếu tranh bổn mạng và bông đũa làm từ cây tre.

Tùy theo độ tuổi, giới tính của các thành viên trong gia đình như thế nào mà có tranh bổn mạng tương ứng.

Gia đình nào theo đạo Phật nghĩa là đã “gửi thân mạng” của mình cho Quan Âm Bồ Tát thì lễ bổn mạng gồm xôi chè, hoa quả, bánh kẹo và cặp bông tre. Ngoài 60 tuổi thì không còn phải làm lễ “cúng bổn mạng” nữa. Nếu gia đình không theo đạo Phật thì sau khi mua tranh bổn mạng về, gia chủ sẽ viết lên mỗi bức tranh câu: “Thế tai – Thế nạn – Thế bệnh – Thế hoạn – Thế mạng – Sanh nhân” kèm theo tên tuổi của từng thành viên tương ứng trên mỗi bức tranh.

Còn với bông đũa (hoa tre) thì được làm bằng tre tươi, sau đó cưa tre thành từng đoạn dài khoảng 20cm có hình tròn to bằng ngón tay cái, rồi dùng mác (rựa) thật bén để vót tre. Mác càng bén thì đường tre vót ra càng cong vút và sắc nét. Sau khi các cọng tre được vót ra đầy đặn thì dùng tay vo cho hoa tre được tròn trịa hơn, phía dưới vót nhọn để khi cúng cắm vào đĩa xôi gọn gàng. Hoa tre được nhuộm màu đỏ, màu gạch, màu cánh sen, màu vàng đậm để người mua tùy sở thích mà chọn lựa. Thông thường người mua chọn màu đỏ nhiều hơn vì người ta quan niệm rằng: đầu năm sẽ được gặp nhiều may mắn, cái gì cũng “đỏ” như bông hoa tre.

Việc hoa tre là một vật phẩm không thể thiếu trong lễ cúng bổn mạng bởi xuất phát từ ý nghĩa: Cây Tre là biểu tượng cho làng quê Việt, cho truyền thống dân tộc và cao hơn là tượng trưng cho sức sống dẻo dai, trường tồn và bất diệt của tinh thần đất nước; tre cũng là một loài cây có nhiều linh khí, thân cây tre cũng được dựng làm cây nêu trong ngày Tết nhằm xua đuổi tà ma. Hoa Tre là một loài hoa quý, mang ý nghĩa tinh tuý của trời đất, là kiệt tác của tạo hoá tự nhiên vì khi cây tre vươn tới 100 năm tuổi mới nở hoa.

Cùng với các nghi lễ đặc trưng như lễ cúng đất, lễ xuân tế,… lễ cúng bổn mạng đầu năm cũng góp phần tạo nên nét độc đáo trong văn hóa của mảnh đất Cố đô Huế./.

Read More

Lễ Apier, một nghi lễ nông nghiệp quan trọng của người Tà Ôi - Pa Cô ở Huế

Post By: Loan Kim April 21, 2021 0 Comment(s) Huế

Trong tín ngưỡng nông nghiệp đồng bào luôn thể hiện sự tôn thờ thần Núi, thần Sông và đặc biệt là thần Lúa để cầu mong cho mưa thuận gió hòa mùa màng bội thu. Chính vì lẽ đó, hàng năm đồng bào Tà Ôi – Pa Cô (tại huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế) thường tổ chức lễ Apier (gieo hạt) trước khi bà con trỉa lúa, gieo hạt trên nương.

Bởi họ quan niệm nếu không làm lễ cúng này thì thần Lúa sẽ không thức dậy mùa màng không tốt tươi, sẽ bị con sâu con mọt, phá hoại, vậy nên việc làm lễ cúng thần là một nghi lễ quan trọng trong văn hóa của người Tà Ôi – Pa Cô.

Trước khi diễn ra lễ Apier, trưởng làng sẽ họp làng lại và chọn ngày giờ tốt để chọn mảnh đất cho nghi lễ gieo hạt. Sau khi họp bàn và chuẩn bị đất xong, họ sẽ cùng nhau cải tạo mảnh đất đó thành những mảnh nhỏ để chuẩn bị cho nghi lễ gieo hạt. Khi đất đã được chọn lựa và cải tạo, đồng bào Tà Ôi – Pa Cô tiến hành một cây nêu tại khoảnh đất đó và chọn giờ làm lễ cúng.

Lễ vật dâng cúng trong lễ Apier bao gồm 1 con heo, 1 con gà, 1 ché rượu cần, gạo nếp, bánh, mía, 5 loại hạt giống (lúa, ngô, lạc, đậu, mè). Sau khi lễ vật chuẩn bị xong, họ sẽ thịt heo và dâng lên cho Yang phần đầu và thịt ngon nhất để thể hiện lòng thành, cùng với đó là máu tươi được lấy từ con heo. Theo nghi thức, gà được luộc chín đặt cạnh ché rượu cần đặt sẵn bên cột cây nêu cùng những chiếc bánh a quát. Đặc biệt vật dụng không thể thiếu được là các loại hạt giống đã được các gia đình chuẩn bị sẵn. Khi đến dự lễ, đồng bào Pa Cô – Tà Ôi thường chỉ cần mang theo hạt thóc giống mà không cần phải mang các loại hạt giống khác, bởi đồng bào quan niệm thần Lúa là đại diện cho tất cả các loại cây trồng. Lúa là lương thực chính nuôi sống con người.

Khi lễ vật đã được chuẩn bị xong, các gia đình đồng bào Tà Ôi – Pa Cô cùng ngồi quanh cây nêu thể hiện lòng thành kính, Trưởng làng thắp nén hương và bắt đầu lễ cúng trên nhà Rông: “Ơi Yang, hôm nay chúng con cùng tất cả những gia đình trong buôn có mặt tại đây báo cáo với Yang rằng, cho đến giờ phút này mùa vụ mới đã bắt đầu mong thần hãy thức dậy đừng ngủ nữa. Đã đến lúc chúng ta cùng nhau đi ra rẫy để chuẩn bị cho một mùa gieo hạt, trỉa lúa mới. Thần không còn thời gian để ngủ nữa đâu, hãy yêu mến con người, hãy yêu thương buôn làng, hãy chứng giám cho buôn làng bằng những lễ vật mà chúng con dâng cúng lên Yang, có gà, có rượu, có xôi, có bánh và có thịt… xin Yang hãy thức tỉnh để nảy mầm xanh tốt, lớn đều, lớn nhanh, hạt chắc, hạt đều… mang lại một mùa màng bội thu và ấm no cho cả buôn làng. Ơ Yang!”.
Sau khi lễ cúng trong nhà được hoàn tất, thầy cúng cùng toàn thể dân làng di chuyển ra mảnh đất đã chọn và tổ chức lễ cúng ngoài rẫy. Lễ vật dâng cúng bao gồm: gà, heo, rượu, bánh, mía và tiết heo tươi theo nghi thức.

Khi di chuyển ra đến mảnh rẫy đã lựa chọn, Trưởng làng lấy một chiếc chiêng la cho những hạt giống vào đó và đánh thức hạt giống bằng những tiếng chiêng – âm hưởng của núi rừng. Đồng bào Tà Ôi – Pa Cô quan niệm chỉ khi hạt giống được đánh thức thì mới có thể nảy mầm, lên đều và lên đẹp.

Cùng lúc đó, những gia đình có hạt giống đã được bỏ sẵn trong giỏ và đeo bên hông, họ đứng theo từng hàng trên những mảnh đất được chia sẵn cho từng loại hạt.

Lúc này, Trưởng làng bắt đầu đọc lời cúng các vị thần: “Ơi các vị thần đang ngự trị trên mảnh mương con suối của chúng con hãy xin thức dậy để chứng dám cho cho ngày hôm nay. Và giờ phút này thần lúa đã thức dậy để chuẩn bị cho một mùa gieo hạt mới. xin các vị thần hãy chứng dám cho buôn làng với các lễ vật như heo, gà, rượu, bánh và xôi… được dâng lên với tất cả mong muốn, mưa thuận gió hòa, thần lúa mọc lên xanh tốt, không bị con sâu con mối phá hoại cũng như các hạt giống sẽ lên đều, lên xanh, lên đẹp…”.

Kết thúc lời cúng của Trưởng làng, đồng bào cùng nhau bắt tay vào gieo tượng trưng những hạt giống trên vạt đất đã chọn. Những người đàn ông cầm gậy chọc lỗ, phụ nữ theo sau vừa tra hạt giống vừa hát, hát cho những hạt giống nảy mầm xanh tốt. Họ vừa gieo hạt vừa hát ru cho thần Lúa, mong thần hãy luôn yêu thương con người, quý mến buôn làng mà nhanh nảy mầm xanh tốt, xen lẫn những bài hát ru là những tiếng chiêng, trống rộn ràng báo hiệu một mùa vụ tốt tươi ở phía trước.

Hạt đã được gieo xong, đồng bào Tà Ôi – Pa Cô cùng nhau rào lại cẩn thận cho thửa rẫy đã được chọn và theo dõi chứng kiến kết quả. Lễ kết thúc mùa gieo hạt được tổ chức tại bến nước của làng. Những người phụ nữ đại diện cho các gia đình sẽ mang giỏ đựng thóc giống của gia đình mình xuống bến nước. Họ nhúng những chiếc giỏ này xuống nước, nhưng chỉ nhúng một nửa. Họ làm vậy để xin thổ địa giữ độ ẩm cho hạt giống nảy đều.

Xong lễ Apier của cả làng, các gia đình bắt đầu chọn ngày gieo cấy trên nương của mình. Không bắt buộc phải gieo vào ngày nào nhưng cũng không được quá chậm trễ, vì sẽ không theo kịp mùa vụ. Khoảng nửa tháng sau, trưởng làng sẽ tìm hiểu xem các gia đình đã trồng trỉa xong chưa, nếu đã xong, làng lại tổ chức một lễ nhỏ kết thúc mùa gieo hạt./.

Read More

Lễ hội Aza - một sắc màu văn hóa vùng cao A Lưới, Huế

Post By: Loan Kim April 18, 2021 0 Comment(s) Huế

Aza là tết cổ truyền của dân tộc Pa Cô nói riêng và các dân tộc Tà Ôi, Cơ Tu, Pahy nói chung. Đây là nét văn hóa tốt đẹp, độc đáo. Ngoài thể hiện lòng thành kính đến các vị thần linh, lễ hội Aza còn để khẳng định tình cảm gắn bó thiêng liêng của con cháu trong làng bản.

Lễ hội này diễn ra vào thời điểm cuối năm, khi mà đồng bào dân tộc vùng cao A Lưới kết thúc công việc nương rẫy cũng là lúc tiết trời se lạnh, trên các đỉnh núi, sương trắng bồng bềnh. Lúc này, người Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pahy háo hức chuẩn bị gạo nếp, thức ăn, trang phục để đón Mùa lễ hội Ycha Aza (lễ ăn cơm mới). Lồng ghép với lễ hội này là ngày hội đại đoàn kết dân tộc để thắt chặt tình đoàn kết thôn bản, cùng nhìn lại những gì đã làm được trong năm và cầu mong mùa màng bội thu trong năm mới.

Lễ hội Aza được tổ chức với mục đích cầu mong mùa màng tươi tốt, cầu thần linh phù hộ cho dân làng được sống yên vui, không ốm đau, bệnh tật. Giải quyết những bất hòa các họ tộc với nhau… Ngoài cúng thần nông nghiệp, đồng bào nơi đây còn cúng thần sông, thần núi, trời đất.

Tại lễ hội, ngoài những nghi thức cúng bái do già làng, trưởng họ đảm nhận còn có nhiều tiết mục dân ca, dân nhạc của đồng bào, tạo nên một sắc màu văn hóa vùng cao.

A Lưới là nơi có nhiều dân tộc như, Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pahy,… sinh sống nên lễ hội Aza ở mỗi dân tộc có những nét khác biệt. Nếu như người Tà Ôi, Cơ Tu chỉ tổ chức trong phạm vi họ hàng, gia đình thì dân tộc Pa Cô lại tổ chức với quy mô cấp làng và có hai loại Aza đó là: “Aza koonh” hay còn gọi là “Aza pựt” (quy mô lớn) và “Aza kâr loh ku mo” hay “Aza Kăn” (quy mô nhỏ). Sự khác biệt đó thể hiện tính phong phú, đa bản sắc văn hóa vùng dân tộc thiểu số.

“Aza koonh” không ấn định khoảng cách thời gian tổ chức. Năm nào cả làng được mùa lớn thì lễ hội này sẽ diễn ra vào tháng 1 âm lịch. Còn “Aza Kăn” thì được tổ chức hàng năm, diễn ra vào độ cuối tháng 11 đến tháng 12 âm lịch.

Dù là “Aza koonh” hay “Aza Kăn” cũng thực hiện các bước nghi lễ để hoàn thành lễ hội Aza. Trước khi bước vào nghi lễ chính là Ka coong tro (lễ mời mẹ lúa) phải thực hiện nghi lễ a xa a rah và cha chootq. Mời mẹ lúa là phần chính của phần lễ Aza, được đeo cho các trang sức quý, như cườm, hạt mã não… Trong nghi lễ này có các lễ cúng Aza (các vị giống cây trồng), lễ cúng giàng Xứ (giàng sông, suối, gió, mấy, núi, lửa…), lễ cúng giàng Kumuuiq (những người đã khuất), lễ cúng giàng Pa nuôn (vị thần chở che khi đi buôn bán), lễ cúng giàng Azel, lễ cúng giàng Cợt (vị thần ban tặng con người), lễ Cha ddoooi âr beh (lễ ăn cơm mới), lễ giao mâm cỗ.

Aza – lễ hội khi nhắc tên chắc hẳn nhiều người sẽ ấn tượng. Song, độ 2 thập kỷ trước, người dân đồng bào vùng cao A Lưới vì mải miết mưu sinh, ổn định cuộc sống nên bẵng quên sắc màu văn hóa này. Nhưng ngày nay, sau những nỗ lực của già làng, trưởng bản, thế hệ trẻ đã nhận thức được tầm quan trọng của lễ hội Aza. Dù khá giả hay khó khăn, năm nào các gia đình, làng bản lại rộn ràng với lễ hội Aza trong những ngày cuối năm. Đây không đơn thuần là lễ hội mà còn là dịp để người dân đồng bào phô diễn những nét văn hóa của mình. Ngoài những lời hỏi thăm, chúc tụng, bên ánh lửa bập bùng, họ cùng nhau hát hò, nhảy điệu múa aza, pon, ẹo và cùng đối đáp nhau bằng dân ca câr lơi, târ a, xiềng, cha chấp trong nhịp trống, tiếng chiêng, giai điệu pâr lư ấm áp tình người./.

Read More

Đến Cố Đô Huế, trải nghiệm trọn vẹn "Lễ hội Điện Hòn Chén"

Post By: Loan Kim April 15, 2021 0 Comment(s) điện hòn chén, Huế

Cố đô Huế không những được biết đến với các lăng tẩm cổ kính, các ngôi chùa hàng trăm năm, các ngôi làng đề thờ… mà nó còn biết đến với Điện Hòn Chén gắn liền với “Lễ hội Điện Hòn Chén” vô cùng nổi tiếng.

Điện Hòn Chén nằm trên núi Ngọc Trản, thuộc làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà. Đây là nơi mà người Chăm thờ nữ thần Pô Nagar, sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà dưới xưng Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Chính vì vậy, người dân quen gọi là “điện thờ Thánh Mẫu”. Thiên Y A Na Thánh Mẫu, nguyên xưa là nữ thần của người Chăm có tên là Pô Yang Inô Nagar, gọi tắt là Pô Nagar, tức Thần Mẹ Xứ Sở, mà theo truyền thuyết Chăm là Thần đã sáng tạo ra đất đai, cây cối, rừng gỗ quý, lúa, bắp,… và dạy dân cách trồng trọt.

Hàng năm cứ mỗi độ vào dịp “xuân tế” và “thu tế” thì người dân thập phương lại tấp nập tìm về Điện Hòn Chén (hay Điện Huệ Nam) để trẩy hội: Lễ vía húy nhật Đức Vân Hương Thánh Mẫu vào ngày mùng 2-3 tháng 3 âm lịch và lễ thu tế vào hai ngày tốt trong thượng tuần tháng 7 âm lịch, dân gian quen gọi là “Tháng Bảy vía Cha, tháng Ba vía Mẹ”. Lễ hội này thu hút hàng nghìn tín đồ và du khách đến chiêm bái và thực hiện các nghi lễ hầu đồng, tạo nên những nét đặc sắc của tín ngưỡng thờ Mẫu và chư vị ở Huế.

Vào thời điểm lễ hội diễn ra, hàng trăm chiếc thuyền rồng và hàng ngàn du khách đến đây tham quan và cúng kính từ rất sớm, người dân địa phương họ mang lễ vật, hoa quả đến đây từ 3-4 giờ sáng, đến 5 giờ sáng là bắt đầu làm lễ ngày đầu tiên. Họ tập trung tại bến thuyền Tòa Khâm (Sông Hương) để có thể được tham gia lễ hội náo nhiệt như vậy. Cho nên du khách và người dân có thể nắm bắt giờ mà đến đây cúng kiến, cầu xin phước lành. Ý nghĩa đặc thù mang đậm tính chất tâm linh thần bí, ai bước chân đến đây cũng đều có một cảm giác lạ thường.

Điều ấn tượng nhất của lễ hội là đám rước Thánh Mẫu, được cử hành trên những chiếc “bằng” với đông đảo thiện nam tín nữ trong trang phục khăn chầu, áo ngự lộng lẫy, muôn màu, muôn vẻ trông như những ông hoàng, bà chúa đời Nguyễn. Đám rước đem theo bàn thờ Thánh cùng long kiệu Thánh Mẫu do các trinh nữ ăn mặc sặc sỡ khiêng, còn các bà, người mang bình hương, ống trầu, bình trà, hòm đựng đồ trang sức, kẻ mang cờ, biển, tàn, lọng, gối, quạt… Các thanh niên thì vác các đồ lễ bộ, bát bửu và các tự khí khác. Ðám rước đầy màu sắc rực rỡ, không khí trang nghiêm.

Tiếp đó là lễ tế Túc Yết, hát thờ, lên đồng hầu bóng diễn ra suốt cả đêm. Sáng hôm sau là ngày đại tế tại đình, buổi chiều các kiệu rước lại long trọng trở về Điện Hòn Chén. Kết thúc hội có lễ phóng sinh và thả đèn.

Nhờ những đặc sắc và ý nghĩa mang lại, Lễ hội Điện Hòn Chén còn được xem như một “Festival về văn hóa dân gian trên sông Hương”, thu hút hàng trăm chiếc thuyền ngược dòng Hương với đông đảo du khách đến từ nhiều tỉnh, thành trên cả nước tìm đến để cúng bái và cầu xin bình an, tiền tài, sức khỏe gia đình… Đồng thời, lễ hội truyền thống này đã đưa mọi người đến gần nhau hơn, góp phần làm cho văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc./.

Read More

Hội Vật làng Sình, nét đẹp văn hoá truyền thống của xứ Huế

Post By: Loan Kim April 15, 2021 0 Comment(s) hội vật, Huế, làng sình

Làng Sình (tên Nôm của làng Lại Ân) nằm bên hữu ngạn sông Hương, ở hạ lưu ngã ba Sình, thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đây là địa chỉ cuối cùng về phương Nam còn lưu giữ truyền thống vật võ, một sinh hoạt văn hoá đặc trưng của người Việt.

“Đến hẹn lại lên”, cứ vào ngày mùng 10 tháng Giêng Âm lịch, người dân xã Phú Mậu lại tổ chức Hội Vật làng Sình. Đây là nét đẹp văn hóa mang tính truyền thống, là nét đẹp tinh hoa võ luyện của mảnh đất xứ kinh kỳ Cố đô và được lưu truyền suốt 400 năm qua kể từ thời chúa Nguyễn.

Hội Vật làng Sình được xem như hội võ lớn nhất và cổ xưa nhất ở xứ Đàng Trong. Ngày nay, Hội Vật được tổ chức không vì mục đích tuyển chọn võ sĩ cho Triều đình mà chỉ được xem là hoạt động giải trí đơn thuần sau những ngày Tết. Thế nên, ngoài việc thể hiện sức khỏe, tinh thần thượng võ, thỉnh thoảng các đô vật còn cố tình tạo tiếng cười giúp người dân có được tinh thần sảng khoái để bước vào năm mới. Người địa phương còn quan niệm, nếu năm nào hội vật thu hút được nhiều người đến xem thì năm đó người làng sẽ làm ăn khấm khá. Hội Vật làng Sình ngoài yếu tố tâm linh như, mong cho dân khỏe, làng yên, mùa màng tươi tốt, hạnh phúc đến với muôn người còn là hoạt động mang đậm tinh thần thượng võ, kích thích việc rèn luyện sức khỏe, lòng dũng cảm, sự tự tin, mưu trí đối với lớp trẻ…

“Dù ai đi đó, đi đây/ Ngày Mười hội vật nhớ quay về Sình”. Đầu xuân, câu ca xưa thôi thúc mọi người quay về làng Sình để xem hội vật. Từ sáng sớm, không khí lễ hội đã rộn ràng, tiếng trống rộn rã, băng rôn và cờ hoa rực rỡ đầy màu sắc, người xem người dự nô nức, chen lấn tạo nên sức nóng của ngày hội. Hội Vật làng Sình có hai phần: phần lễ và phần hội được diễn ra trong một ngày.

Phần lễ được tổ chức khá tôn nghiêm tại đình làng Lại Ân. Tại đây, các cụ cao niên trong làng sẽ làm nghi lễ vái tạ Thành Hoàng của trưởng tộc ở đình làng. Sau đó phần hội chính thức được bắt đầu. Các đô vật dự đấu không nhất thiết là người địa phương, bất kỳ khán giả nào cũng có thể đăng ký tham gia.

Võ đài là sới vật bằng đất bột, mỗi bề rộng chừng 4-5 sải tay, cao hơn 1m được dựng trước sân đình từ ngày hôm trước, mùng 9 tháng Giêng, bốn bề có giăng dây bảo vệ. Người xem vây quanh sới vật ngồi san sát bên nhau trên những mô đất, những bệ cấp bằng tre già đan kết lại trong khuôn viên đình rộng chừng 600m2.

Điều khiển vật võ là một vị cao niên, có uy tín trong làng, khăn đen, áo dài, ngồi cầm trống ngay trước đình. Tiếng trống nhịp nhàng, thong thả là gọi vật; hối hả, liên tục là thúc giục các đô tích cực thi đấu.

Trọng tài trên sới là một người am hiểu luật, nhanh nhạy, kiên quyết. Các đô vật mặc quần và quấn thêm một cán ngang lưng. Người đến thi đấu không cần báo trước, chỉ đăng ký tại chỗ theo lời mời gọi thi tài. Khi được phép, họ vào sới, làm lễ bái thần làng và các vị cao tuổi. Trọng tài kiểm tra trang phục, xong cho lệnh thi đấu. Trống đánh một tiếng quỳ xuống chào nhau, trống đánh hai tiếng, đứng lên ôm nhau vật. Trống đánh ba tiếng thì thả nhau ra, lựa thế khác, vật lại.

Hội vật làng Sình về cơ bản cũng áp dụng nguyên tắc của luật thi đấu vật dân tộc. Luật quy định: phải đánh ngã đối thủ ở tư thế “lấm lưng trắng bụng” đồng thời giữ (đè) được đối thủ trong vòng 3 giây là thắng. Hội vật làng Sình rất chú trọng tinh thần thượng võ vì thế những đòn nguy hiểm như bẻ, vặn khóa trái khớp, tấn công vào hạ bộ, yết hầu, mắt… là hoàn toàn cấm. Các đô vật sẽ được phân thành nhóm lứa tuổi, cứ đô vật nào thắng 3 trận sẽ được vào vòng bán kết. Vượt qua vòng bán kết mới được vào vòng chung kết. Sau này, tuỳ số đô vật lọt vào vòng hai mà quy định thể lệ, thông thường là loại trực tiếp. Với vật võ, ngoài sức khoẻ, các đô còn có kỹ thuật, có “miếng” và nhanh nhạy mới mong giành được thắng lợi. Vật có nhiều miếng đẹp mắt, quyết liệt. Những miếng thường được các đô vật sử dụng là xốc nách, vạch sườn, miếng bò, miếng háng (thò tay vào háng rồi lựa thế tấn công) nâng đối thủ vật ngã bổng, miếng bành (xốc nách bế ngửa) miếng táng (nâng đối thủ lên)…

Hội vật làng Sình rất chú trọng tinh thần thượng võ, vì thế các đô vật không được ra các đòn đánh nguy hiểm đến tính mạng như bẻ, vặn, khoá trái khớp, tấn công bằng đầu, bấm các huyệt, nắm tóc, tấn công vào hạ bộ, yết hầu, mắt… Một nét độc đáo ở Lễ hội làng Sình là tinh thần đồng đội ở các địa phương, một đô vật của làng nào bị thua sẽ có đô vật khác lên tiếp sức. Mỗi năm có hơn 100 đô vật tham gia hào hứng suốt ngày. Nếu để thua một trận các đô vật phải chờ đến năm sau mới “phục hận” được, vì thế các đô vật thường rèn luyện suốt năm, tu dưỡng đạo đức để chờ đầu xuân tham dự, tranh tài. Nếu hai đô vật giằng co nhau không thắng, trọng tài sẽ phạt và buộc thay thế tư thế vật (vật quỳ) để kết thúc nhanh trận đấu.

Tất nhiên, có thi đấu thì sẽ có giải thưởng và điều đặc biệt là người thua cũng có quà lưu niệm. Giải thưởng là tặng phẩm do dân làng và các mạnh thường quân đóng góp. Giải thưởng vô địch thường trang trọng hơn (cau trầu, rượu, đầu heo…).

Cùng với Sới vật chính, đêm hôm trước và suốt ngày hội, khắp nơi trong làng các quán hàng ăn: bún bò, bánh bèo, bánh nậm, bán bột lọc, cháo lòng, bánh canh, chè… các gian trò chơi thu hút đông đảo khách chơi xuân. Cho đến khi tắt nắng, cuộc vui mới chịu dừng. Và, hôm sau mọi việc trở lại nhịp đời thường. Một năm làm lụng mới lại bắt đầu.

Hội Vật làng Sình thường diễn ra dưới cái lạnh cắt da. Dù vậy, hàng nghìn người tham dự vẫn cảm nhận được sự ấm áp từ tinh thần thi đấu đậm chất dân dã của các đô vật thuộc hai lứa tuổi thiếu niên và thanh niên đến từ nhiều địa phương ở Thừa Thiên Huế. Ngày nay, sức hấp dẫn của hội vật không chỉ thu hút các đô vật và du khách trong vùng mà còn đối với cả khách du lịch nước ngoài mỗi khi có dịp đến Huế, bởi bên cạnh tinh thần thượng võ của trò đấu vật, du khách còn được đắm mình trong không khí lễ hội với nhiều trò vui của những làng quê đất Cố đô.

Làng Sình hôm nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng không gian văn hoá xưa vẫn còn lưu lại những dấu ấn rất rõ nét về một vùng đất thượng võ. Đó như là những minh chứng cho một giá trị văn hóa trường tồn của người dân làng Sình. Đây cũng chính là điều ấn tượng còn lại trong lòng du khách khi đặt chân đến với mảnh đất thân thương này./.

Read More
  • Prev
  • 1
  • 2
  • 3

Contact info

  • Address: 11/61 Le Minh Street An Dong Ward, Hue City, Vietnam
  • Phone: (+84) 913 479 171
  • Email: loankimhomestay@gmail.com
  • TDP-2
  • TDP-17
  • TDP-18
  • TDP-19
  • TDP-32
  • TDP-42
  • TDP-45
  • TDP-46
  • TDP-47
  • LK-coffee
  • lk-st
  • PrivateRoom-2

©2021 Loan Kim Homestay All Rights Reserved.

©2026 WordPress Theme SW Kingplace. All Rights Reserved. Designed by WPThemeGo.Com.

X
x
Login in or create account

Or
  • Menu
  • Home
  • Room
  • Visit Hue
  • About Us
  • Contact Us
  • English
    • Vietnamese